VIỆT NAM ĐÃ PHÊ CHUẨN CÔNG ƯỚC LAHAY SỐ 33 NGÀY 29/5/1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ

Ngày 18/7/2011, Chủ tịch nước đã có Quyết định số 1103/2011/QĐ-CTN về việc phê chuẩn Công ước Lahay số 33 ngày 29/5/1993 (Công ước Lahay số 33) về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Có thể khẳng định rằng, việc Việt Nam ký, phê chuẩn và thực hiện Công ước Lahay số 33 trong thời điểm hiện nay có nhiều điểm thuận lợi.

Ngày 18/7/2011, Chủ tịch nước đã có Quyết định số 1103/2011/QĐ-CTN về việc phê chuẩn Công ước Lahay số 33 ngày 29/5/1993 (Công ước Lahay số 33) về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Có thể khẳng định rằng, việc Việt Nam ký, phê chuẩn và thực hiện Công ước Lahay số 33 trong thời điểm hiện nay có nhiều điểm thuận lợi.

Thứ nhất, pháp luật trong nước về nuôi con nuôi đã được hoàn thiện một cách toàn diện và đồng bộ, thể hiện qua việc Quốc hội thông qua Luật Nuôi con nuôi và Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi. Về cơ bản, các quy định của Công ước Lahay số 33 đã được nội luật hóa ở mức tối đa trong hai văn bản này. Thứ hai, Việt Nam đã trải qua hơn mười năm thực hiện Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi với các nước Pháp, Italia, Đan Mạch, Thụy Điển, Ailen, Hoa Kỳ, Canada, Thụy Sỹ và Tây Ban Nha. Cho đến nay, tất cả những nước này đều đã trở thành thành viên của Công ước Lahay số 33. Do vậy, việc thực hiện các Hiệp định hợp tác song phương đã đem lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong qúa trình hợp tác quốc tế về nuôi con nuôi theo cơ chế của Công ước Lahay.

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với Bộ Ngoại giao tiến hành thủ tục nộp lưu chiểu văn kiện phê chuẩn Công ước tới Bộ Ngoại giao Vương quốc Hà Lan (là quốc gia lưu chiểu Công ước). Theo quy định tại Điều 46 của Công ước Lahay số 33 thì Công ước sẽ có hiệu lực đối với Việt Nam vào ngày đầu tiên của tháng tiếp theo sau thời hạn 03 tháng kể từ khi Việt Nam nộp văn kiện lưu chiểu về việc phê chuẩn Công ước.

Để thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của một nước thành viên tham gia Công ước, đồng thời nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết việc nuôi con nuôi quốc tế, Bộ Tư pháp đang xây dựng Đề án triển khai thực hiện Công ước Lahay số 33 để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Việc xây dựng Đề án sẽ giúp chúng ta thực hiện Công ước một cách khoa học và có hiệu quả thông qua việc xác định đầy đủ các nguyên tắc của quá trình thực hiện, những hoạt động cần được tiến hành, lộ trình thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong quá trình thực hiện Công ước Lahay số 33.

Đào Hà, Cục Con nuôi

theo  moj.gov.vn

THỦ TỤC NHẬN NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

(Theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ và
Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP)
I. Hồ sơ của người xin nhận con nuôi gồm các giấy tờ sau:

(Theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ và
Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP)
I. Hồ sơ của người xin nhận con nuôi gồm các giấy tờ sau:

1) Đơn xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi theo mẫu quy định;
2) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú;
3) Giấy phép còn giá trị do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú cấp, cho phép người đó nhận con nuôi. Nếu nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú không cấp loại giấy phép này thì thay thế bằng giấy tờ có giá trị tương ứng hoặc giấy xác nhận có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định nước đó;
4) Bản điều tra về tâm lý, gia đình, xã hội của người xin nhận con nuôi do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú cấp;
5) Giấy xác nhận do tổ chức y tế có thẩm quyền của nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú hoặc tổ chức y tế của Việt Nam từ cấp tỉnh trở lên cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó có đủ sức khỏe, không mắc bệnh tâm thần hoặc không mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, không mắc bệnh truyền nhiễm;
6) Giấy tờ xác nhận về tình hình thu nhập của người xin nhận con nuôi, chứng minh người đó bảo đảm việc nuôi con nuôi;
7) Phiếu lý lịch tư pháp của người xin nhận con nuôi do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó thường trú cấp chưa quá 12 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ;
8) Bản sao giấy chứng nhận kết hôn đối với người xin nhận con nuôi, trong trường hợp người xin nhận con nuôi là vợ chồng đang trong thời kỳ hôn nhân;
9) Người xin nhận con nuôi là người nước ngoài thường trú ở nước ngoài mà nước đó chưa ký hiệp định con nuôi với Việt Nam thì phải có giấy tờ phù hợp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước nơi người đó thường trú cấp để chứng minh nếu thuộc 1 trong 3 trường hợp hợp sau đây:
a) Có thời gian công tác, học tập, làm việc tại Việt Nam từ 06 thang trở lên;
b) Có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam;
c) Có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được xin nhận làm con nuôi hoặc đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin nhận làm con nuôi.
(Quy định tại điều 41 Nghị định số 69/2006/NĐ-CP).
Hồ sơ được lập thành 02 bộ và nộp cho Cơ quan con nuôi quốc tế (Bộ Tư pháp).

II. Hồ sơ của trẻ em được cho làm con nuôi gồm các giấy tờ sau đây:

1) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy khai sinh của trẻ em;
2) Giấy đồng ý cho trẻ em làm con nuôi có chữ ký của những người có quyền sau đây:
– Người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại Việt Nam tự nguyện đồng ý cho trẻ em đang sống ở cơ sở nuôi dưỡng làm con nuôi. Trong trường hợp trẻ em còn cha đẻ, mẹ đẻ thì phải có giấy tự nguyện đồng ý của cha đẻ, mẹ đẻ cho con làm con nuôi, trừ trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có cha, mẹ là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc khi đưa trẻ em này vào cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp, cha, mẹ đẻ của trẻ em này đã có giấy tự nguyện đồng ý cho con làm con nuôi;
– Cha đẻ, mẹ đẻ tự nguyện đồng ý cho con đang sống tại gia đình làm con nuôi. Nếu cha hoặc mẹ đẻ của trẻ em đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chỉ cần sự đồng ý của người kia. Trong trường hợp cả cha và mẹ đẻ của trẻ em đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì phải có giấy tự nguyện đồng ý của người giám hộ của trẻ em đó;
– Đối với trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải có giấy đồng ý làm con nuôi của trẻ em đó (có thể ghi chung vào giấy đồng ý cho trẻ em làm con nuôi).
3) Giấy xác nhận của Tổ chức y tế từ cấp huyện trở lên, xác nhận về tình trạng sức khỏe của trẻ em;
4) Hai ảnh màu của trẻ em, chụp toàn thân cỡ 10 x 15 cm hoặc 9 x 12 cm.
(Quy định tại Điều 44 Nghị định số 69/2006/NĐ-CP).

Hồ sơ lập thành 04 bộ và nộp cho Sở Tư pháp Thành phố (số 141–143 Pasteur, quận 3, TP. Hồ Chí Minh).

Ghi chú:
1) Đối với trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp, ngoài các giấy tờ nêu trên, hồ sơ của trẻ em được cho làm con nuôi còn phải có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng, biên bản bàn giao trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng và giấy tờ tương ứng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Đối với trẻ em bị bỏ rơi, phải có bản tường trình sự việc của người phát hiện trẻ em bị bỏ rơi; biên bản về việc trẻ em bị bỏ rơi (có xác nhận của cơ quan công an hoặc chính quyền địa phương); giấy tờ chứng minh đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (từ cấp tỉnh trở lên) về việc trẻ em bị bỏ rơi sau 30 ngày mà không có thân nhân đến nhận;
– Đối với trẻ em mồ côi, phải có bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy chứng tử của cha, mẹ đẻ của trẻ em đó;
– Đối với trẻ em có cha. mẹ là người mất năng lực hành vi dân sự, phải có bản sao được công chứng quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên bố cha, mẹ đẻ của trẻ em đó mất năng lực hành vi dân sự.
2) Đối với trẻ em đang sống tại gia đình, ngoài các giấy tờ quy định nêu trên, còn phải có bản sao được công chứng hoặc chứng thực sổ hộ khẩu hoặc giấy đăng ký tạm trú có thời hạn của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ đang nuôi dưỡng trẻ em.
3) Đối với trẻ em khuyết tật, tàn tật, nạn nhân của chất độc hóa học, nhiễm HIV/AIDS, mắc bệnh hiểm nghèo khác thì phải có giấy xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền cấp theo quy định của Bộ Y tế và các quy định pháp luật khác có liên quan; đối với trẻ em mất năng lực hành vi dân sự thì phải có bản sao được công chứng quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên bố trẻ em đó mất năng lực hành vi dân sự.
3) Các văn kiện bằng tiếng nước ngoài phải nộp 01 bản chính, kèm bản dịch ra tiếng Việt có xác nhận của Phòng Công chứng Nhà nước.
– Văn kiện được cấp từ nước ngoài do cơ quan lãnh sự Việt Nam tại nước đó hợp pháp hóa.
– Văn kiện được cấp từ các cơ quan Đại diện ngoại giao của nước ngoài đang trú đóng tại Việt Nam thì do Bộ Ngoại giao Việt Nam hoặc cơ quan Ngoại vụ được Bộ Ngoại giao Việt Nam ủy nhiệm hợp pháp hóa.
– Trường hợp văn kiện được cấp từ nước ngoài đã mang về Việt Nam nhưng chưa được hợp pháp hóa, thì văn kiện này phải thông qua cơ quan Ngoại giao của nước họ đang trú đóng tại Việt Nam thị thực. Sau đó Bộ Ngoại giao Biệt Nam ủy nhiệm hợp pháp hóa.

THỦ TỤC NHẬN CON NUÔI Ở VIỆT NAM RA SAO?

Sự kiện một diễn viên nước ngoài nhận xin con nuôi tại VN khiến nhiều người thắc mắc qui trình, thủ tục nhận nuôi con nuôi hiện nay ra sao. Bà Trịnh Thị Bích trưởng phòng hộ tịch, quốc tịch và lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp TP.HCM – cho biết:

Công dân của nước mà VN đã có ký điều ước quốc tế về nuôi con nuôi có thể được xin trẻ em VN dưới 15 tuổi (hoặc 15-16 tuổi nếu trẻ tàn tật hoặc mất năng lực hành vi dân sự) để làm con nuôi.

Sự kiện một diễn viên nước ngoài nhận xin con nuôi tại VN khiến nhiều người thắc mắc qui trình, thủ tục nhận nuôi con nuôi hiện nay ra sao. Bà Trịnh Thị Bích trưởng phòng hộ tịch, quốc tịch và lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp TP.HCM – cho biết:

Công dân của nước mà VN đã có ký điều ước quốc tế về nuôi con nuôi có thể được xin trẻ em VN dưới 15 tuổi (hoặc 15-16 tuổi nếu trẻ tàn tật hoặc mất năng lực hành vi dân sự) để làm con nuôi.

Đối với công dân ở quốc gia mà VN chưa ký điều ước quốc tế về nuôi con nuôi thì chỉ được nhận nuôi con nuôi trong các trường hợp sau: người nước ngoài có thời gian học tập, làm việc tại VN trên sáu tháng; có vợ chồng hoặc cha mẹ là người VN hoặc có gốc VN; có quan hệ họ hàng với trẻ được nhận là con nuôi; nhận nuôi trẻ bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, nhiễm HIV, nạn nhân của chất độc hóa học, nhiễm bệnh hiểm nghèo tại các cơ sở nuôi dưỡng hoặc trẻ mồ côi đang sống tại các gia đình.

Người nước ngoài muốn nhận con nuôi tại VN phải có đơn (theo mẫu); giấy phép của cơ quan có thẩm quyền của nước đó cho nhận nuôi con nuôi hoặc giấy xác nhận đủ điều kiện nhận nuôi con nuôi; bản điều tra về tâm lý xã hội của người này do cơ quan có thẩm quyền cấp; giấy xác nhận của cơ quan y tế về tình trạng sức khỏe, tâm thần; giấy tờ xác nhận thu nhập; phiếu lý lịch tư pháp; bản sao chứng nhận kết hôn và bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác…

Hồ sơ nộp cho Cục Con nuôi quốc tế thuộc Bộ Tư pháp xem xét giải quyết. Cục Con nuôi quốc tế sẽ gửi công văn cho sở tư pháp tỉnh, thành nơi trẻ được nhận nuôi cư trú để giới thiệu, hướng dẫn lập hồ sơ trẻ và tiến hành thẩm tra xác minh. Sau khi thẩm tra xác minh, sở tư pháp sẽ chuyển hồ sơ trả cho Cục Con nuôi quốc tế để xem xét quyết định việc cho nhận con nuôi hay không. Tùy trường hợp xác minh và việc xin con nuôi đích danh hoặc không đích danh mà thời gian giải quyết có thể từ 3-4 tháng. Lệ phí nhận nuôi con nuôi của người nước ngoài là 1.000.000 đồng/hồ sơ.

Còn trường hợp nhận nuôi con nuôi trong nước có trình tự thủ tục ra sao, thưa bà?

Theo nghị định 158/2005/NĐ-CP, người nhận con nuôi nộp hồ sơ tại UBND cấp xã nơi cư trú. Hồ sơ phải có giấy thỏa thuận về việc cho và nhận con nuôi do chính cha mẹ đẻ và người nhận con nuôi lập, kể cả trường hợp cha mẹ đã ly hôn. Đối với trẻ đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng thì người đại diện cơ sở ký giấy thỏa thuận. Trẻ được nhận làm con nuôi phải dưới 15 tuổi, nếu trẻ từ đủ 9-15 tuổi thì trong giấy thỏa thuận phải có ý kiến của trẻ. Ngoài ra, trong hồ sơ còn phải có bản sao giấy khai sinh người được nhận làm con nuôi, biên bản xác nhận tình trạng bị bỏ rơi (nếu người được nhận làm con nuôi là trẻ bị bỏ rơi).

Trước khi đăng ký việc nuôi con nuôi, cán bộ hộ tịch phải kiểm tra, xác minh kỹ tính tự nguyện của việc cho và nhận con nuôi, mục đích nhận con nuôi. Thời hạn giải quyết hồ sơ là năm ngày, nếu cần xác minh thêm thì được kéo dài thêm không quá năm ngày.

Theo Chi Mai (Tuổi Trẻ)

Qui trình tiếp công dân của cơ quan hành chính Nhà nước

QUI TRÌNH TIẾP CÔNG DÂN CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Qui trình tiếp công dân của cơ quan hành chính Nhà nước

Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư hướng dẫn quy trình tiếp công dân có hiệu lực thi hành từ 1/10/2011. Trong đó, quy định rõ người tiếp công dân phải có thái độ đúng mực, tôn trọng nhân dân; lắng nghe công dân trình bày đầy đủ nội dung sự việc và giải thích, hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật.

Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư hướng dẫn quy trình tiếp công dân có hiệu lực thi hành từ 1/10/2011. Trong đó, quy định rõ người tiếp công dân phải có thái độ đúng mực, tôn trọng nhân dân; lắng nghe công dân trình bày đầy đủ nội dung sự việc và giải thích, hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật.

Người tiếp công dân phải có trang phục chỉnh tề, phải đeo thẻ, dán ảnh, ghi rõ cơ quan, họ tên, chức danh, số hiệu quy định.

Trường hợp công dân đến nơi tiếp công dân đang trong tình trạng say rượu, tâm thần hoặc có hành vi vi phạm nội quy tiếp công dân thì người tiếp công dân có quyền từ chối không tiếp, yêu cầu họ chấm dứt hành vi vi phạm. Nếu cần thiết, có thể lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với quy trình tiếp người khiếu nại, tố cáo phải được thực hiện qua các bước là: Xác định nhân thân của người khiếu nại, tố cáo; nghe, ghi chép nội dung khiếu nại, tố cáo, tiếp nhận thông tin, tài liệu; phân loại, xử lý khiếu nại, tố cáo.

Trong quá trình tiếp người tố cáo, người tiếp công dân phải giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích người tố cáo; không được tiết lộ những thông tin có hại cho người tố cáo. Đồng thời, phải áp dụng những biện pháp cần thiết để đảm bảo cho người tố cáo không bị đe dọa, trù dập, trả thù.

Trường hợp có từ 5 người trở lên cùng đến nơi tiếp công dân để khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung thì người tiếp công dân yêu cầu những người khiếu nại, tố cáo cử đại diện trình bày về nội dung vụ việc với người tiếp công dân.

Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước tiếp công dân theo định kỳ

Thông tư cũng quy định trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước trong việc trực tiếp tiếp công dân.

Cụ thể là, Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm trực tiếp tiếp công dân theo định kỳ quy định tại Điều 74, 76 của Luật Khiếu nại, tố cáo. Trường hợp cần thiết vì lý do khách quan thì giao cho cấp phó tiếp và thông báo công khai cho công dân biết người được thay mặt tiếp công dân.

Bên cạnh đó, thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước tiếp công dân khi có yêu cầu khẩn thiết trong những trường hợp khiếu nại, tố cáo gay gắt, phức tạp; khiếu nại, tố cáo nếu không chỉ đạo xem xét kịp thời có thể gây hậu quả nghiêm trọng dẫn đến hủy hoại tài sản của Nhà nước, của tập thể, xâm hại đến tính mạng của công dân, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và tiếp công dân theo yêu cầu của cơ quan cấp trên.

Khi tiếp công dân, Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước phải có ý kiến trả lời về việc giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo cho công dân. Nếu chưa trả lời công dân ngay được thì phải thông báo rõ thời gian giải quyết và thời gian trả lời cho công dân.

Theo Chinhphu.vn

QUY ĐỊNH VIỆC MUA, BÁN NGOẠI TỆ TIỀN MẶT CỦA CÁ NHÂN VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG ĐƯỢC PHÉP

Ngày 29/8, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 20/2011/TT-NHNN quy định việc mua, bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép

 

Ngày 29/8, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 20/2011/TT-NHNN quy định việc mua, bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép

Theo Thông tư, cá nhân là công dân Việt Nam khi ra nước ngoài với mục đích; học tập, chữa bệnh, công tác, du lịch, thăm viếng được mua ngoại tệ tiền mặt tại tổ chức tín dụng được phép để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của bản thân và trẻ em chung hộ chiếu với cha hoặc mẹ bao gồm tiền ăn, tiền tiêu vặt, tiền đi lại ở nước ngoài. Hạn mức được mua là 100USD/1 người/1 ngày hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương trong khoảng thời gian lưu trú ở nước ngoài là 10 ngày.

Cá nhân khi muốn mua ngoại tệ với mục đích nêu trên có trách nhiệm xuất trình đầy đủ các chứng từ, giấy tờ cần thiết theo quy định của tổ chức tín dụng được phép và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của các loại giấy tờ, chứng từ đã xuất trình.

Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/10/2011.

MTHT

(Theo websize của Bộ Tài Chính)

HƯỚNG DẪN THỦ TỤC GHI NỢ VÀ THANH TOÁN NỢ TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN

Theo quy định tại khoản 4 Điều 15 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP (đã được bổ sung tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP) hộ gia đình, cá nhân được chuyển mục đích sử dụng đất, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định và hộ gia đình

Theo quy định tại khoản 4 Điều 15 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP (đã được bổ sung tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP) hộ gia đình, cá nhân được chuyển mục đích sử dụng đất, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định và hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất tái định cư mà chưa có khả năng tài chính để nộp tiền sử dụng đất có nguyện vọng ghi nợ thì được ghi: ‘nợ tiền sử dụng đất’ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thủ tục ghi nợ tiền sử dụng đất và thanh toán nợ tiền sử dụng đất được hướng dẫn tại Thông tư 93/2011/TT-BTC ngày 29/6/2011 của Bộ Tài chính như sau:

 

Đối với việc ghi nợ tiền sử dụng đất:

Thứ nhất, hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được ghi nợ tiền sử dụng đất theo quy định có đơn đề nghị ghi nợ tiền sử dụng đất kèm theo hồ sơ có liên quan gửi về Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (hoặc Phòng Tài nguyên và Môi trường) thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi có đất;

Thứ hai, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (hoặc Phòng Tài nguyên và Môi trường) thẩm định, trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có ghi nợ nghĩa vụ tài chính (bao gồm cả tiền sử dụng đất); sau đó lập và chuyển Phiếu thông tin địa chính kèm theo bản sao một bộ hồ sơ cho Cơ quan Thuế cùng cấp để xác định số tiền sử dụng đất phải nộp của hộ gia đình, cá nhân theo quy định và lập sổ theo dõi việc thanh toán nợ tiền sử dụng đất. Sổ theo dõi nợ được lập chi tiết theo diện tích đất ở trong hạn mức và diện tích đất ở ngoài hạn mức.

Về việc thanh toán nợ tiền sử dụng đất:

Thứ nhất, khi thanh toán nợ tiền sử dụng đất, người sử dụng đất đến cơ quan thuế kê khai thanh toán nợ, cơ quan thuế căn cứ vào sổ theo dõi nợ để làm thủ tục thanh toán nợ cho hộ gia đình, cá nhân.

Trường hợp sau 5 năm, hộ gia đình, cá nhân mới thanh toán nợ hoặc trong thời hạn 5 năm mà chưa thanh toán hết nợ thì số tiền sử dụng đất còn nợ đối với từng loại diện tích trong hạn mức và ngoài hạn mức được quy đổi ra tỷ lệ (%) chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính (= tiền sử dụng đất còn nợ/tổng số tiền sử dụng đất được tính theo giá đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nhân (x) với tiền sử dụng đất xác định lại theo giá đất tại thời điểm trả nợ.

Giá đất tính thu tiền sử dụng đất tại thời điểm trả nợ là giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định (đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất ở), là giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định (đối với diện tích vượt hạn mức).

Thứ hai, sau khi người sử dụng đất đã hoàn thành việc thanh toán nợ, cơ quan thuế ra thông báo hoặc xác nhận để người sử dụng đất đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (hoặc Phòng Tài nguyên và Môi trường) làm thủ tục xóa nợ tiền sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thứ ba, hộ gia đình, cá nhân được ghi nợ tiền sử dụng đất khi chuyển nhượng thì phải nộp đủ số tiền sử dụng đất còn nợ. Trường hợp được phép chuyển nhượng một phần thửa đất, thì cơ quan tài nguyên và môi trường làm thủ tục tách thửa để cơ quan thuế xác định số tiền sử dụng đất tương ứng với phần chuyển nhượng. Trường hợp khi nhận thừa kế quyền sử dụng đất mà người để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất chưa trả nợ tiền sử dụng đất thì người nhận thừa kế có trách nhiệm tiếp tục trả nợ theo quy định của pháp luật về thừa kế./.

(Theo Cục QLCS)

LÀM THỦ TỤC BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP: QUÁ CỰC

Mất cả tháng với năm, sáu lần tới lui, nhiều người vẫn có nguy cơ không lãnh được tiền bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Mới 6 giờ 30 sáng, trước cổng Trung tâm Giới thiệu việc làm TP.HCM, hàng trăm lao động thất nghiệp đã rồng rắn chầu chực chờ đăng ký BHTN.
Mất cả tháng với năm, sáu lần tới lui, nhiều người vẫn có nguy cơ không lãnh được tiền bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Mới 6 giờ 30 sáng, trước cổng Trung tâm Giới thiệu việc làm TP.HCM, hàng trăm lao động thất nghiệp đã rồng rắn chầu chực chờ đăng ký BHTN.

Khổ từ lúc nộp hồ sơ

Anh Nguyễn Thanh Sang (nguyên công nhân Công ty Bao bì Ngôi Sao ở quận 6, người nhận số thứ tự lên tới… 1.912), cho biết: “Em đã chờ được hơn 30 phút, nghe nói có người còn phải chờ đến vài tiếng”. Theo ghi nhận của phóng viên, để tới lượt đăng ký, những người này phải mất vài chục phút đến 1 hoặc 2 giờ tùy “khả năng chen lấn”. Nhưng đó chỉ là bắt đầu. Đợi đã đời, đến khi làm thủ tục thì giấy tờ lại không hợp lệ nên đành phải đi bổ sung, lúc quay lại thì phải bấm số lại từ đầu.

Chị Trần Thị Ánh Tuyết (bảo mẫu Trường Đống Đa, quận Bình Thạnh), cho biết chị đến từ sớm nhưng do trên giấy thôi việc ghi là “thông báo chấm dứt hợp đồng lao động” chứ không phải “quyết định thôi việc” nên nhân viên ở đây không đồng ý nhận hồ sơ. Chị phải về lại cơ quan cũ để xin chuyển thành “quyết định thôi việc”. Trường Đống Đa lại không thể đổi cho chị vì họ chỉ có mẫu “thông báo chấm dứt hợp đồng lao động”. Cùng đường, chị chạy lên phòng giám đốc của trung tâm. May cho chị là một cán bộ lãnh đạo đã tiếp chị và chấp nhận hồ sơ.

Cho đến lúc nhận tiền

Nhưng nỗi gian truân mới thực sự bắt đầu từ giai đoạn hai (làm hồ sơ). Từ khi thất nghiệp đến khi nhận được tiền, người lao động (NLĐ) phải qua “cuộc hành trình” bốn giai đoạn (xem sơ đồ).

Qua được bốn giai đoạn, nếu suôn sẻ phải mất tháng rưỡi (thông thường là hai tháng) và không ít trường hợp NLĐ bỏ cuộc hoặc vì những lý do khác nhau.

Một trong những “thử thách” đầu tiên mà NLĐ phải đối mặt là thời hạn bảy ngày kể từ ngày thất nghiệp phải đến phòng BHTN để đăng ký BHTN. Anh Nguyễn Văn Hạt tiếc rẻ vì hai tháng sau ngày nghỉ việc, công ty mới trả cho anh sổ BHXH (một trong những yêu cầu bắt buộc trong hồ sơ). Tình cờ nghe một người bạn mách anh mới biết là cần đăng ký BHTN nhưng thời hạn bảy ngày đã qua từ lâu. Chị Nguyễn Thị Hồng Trinh, sau khi thôi việc ở một công ty nước ngoài, đến đăng ký tại trung tâm nhưng công ty cũ của chị cứ hẹn lần lữa. Nếu đến ngày hẹn (20 ngày) mà trong tay chưa cầm được sổ BHXH, xem như tiền BHTN của chị đi tong.

Mới hơn 6 giờ sáng, cửa phòng BHTN Trung tâm Giới thiệu việc làm TP.HCM đã đông người. Ảnh: NGUYỄN DÂN

Có những trường hợp lại khổ vì nhân viên cứng nhắc. Chị Lê Thị Thanh Lan (quận Tân Bình) không được nhận hồ sơ vì chị chỉ có giấy báo “chấm dứt hợp đồng lao động” thay vì “quyết định thôi việc”. Chị than: “Tôi làm ở công ty nước ngoài, bên công ty tôi chỉ có giấy báo chấm

Ông Nguyễn Cao Thắng, Phó Giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm TP.HCM, cho biết ông đồng cảm với những khó khăn mà NLĐ đang gặp phải. “Thời hạn phải đăng ký trong bảy ngày gây khó cho NLĐ, trung tâm đang đề xuất kéo dài thời gian. Với những trường hợp trễ hẹn nếu có lý do chính đáng thì trung tâm vẫn có thể giải quyết. Với những NLĐ không kịp đăng ký BHTN thì số tiền của họ cũng không bị mất. Số tiền này sẽ được cộng dồn vào khoảng thời gian sau nếu người đó đi làm và nếu phải xin đăng ký thất nghiệp một lần nữa”.

Trả lời câu hỏi vì sao trung tâm từ chối giấy “chấm dứt hợp đồng lao động” thay vì “quyết định thôi việc”, ông giải thích: “Cả hai loại giấy đều có cùng một nội dung là NLĐ đang thất nghiệp nên trung tâm không thể từ chối. Những trường hợp NLĐ phản ánh nhân viên “hành dân”, đó là những nhân viên mới chưa thạo việc, quá máy móc, nếu có chứng cứ cụ thể chúng tôi sẽ xử lý triệt để”.

 

NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ ĐƯỢC NỔ SÚNG KHI TÍNH MẠNG BỊ ĐE DỌA

(SGGPO). – Sáng nay, 20-7, Văn phòng Chủ tịch nước đã họp báo Lệnh của Chủ tịch nước công bố Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Pháp lệnh gồm 6 chương, 38 điều, quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; trách nhiệm quản lý nhà nước đối với vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và an toàn xã hội.

(SGGPO). – Sáng nay, 20-7, Văn phòng Chủ tịch nước đã họp báo Lệnh của Chủ tịch nước công bố Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Pháp lệnh gồm 6 chương, 38 điều, quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; trách nhiệm quản lý nhà nước đối với vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và an toàn xã hội.

 

Tại buổi công bố, Trung tướng Phạm Quý Ngọ, Thứ trưởng Bộ Công an, cho biết pháp lệnh là chế tài mạnh nhất nhằm ngăn chặn và xử lý các vi phạm về sử dụng vũ khí, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới.

Pháp lệnh nghiêm cấm mọi cá nhân sở hữu vũ khí. Nghiêm cấm chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, xuất nhập khẩu trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Nghiêm cấm lạm dụng việc sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ để xâm phạm tới sức khỏe, tính mạng, quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức.

Cùng với đó, hành vi cho tặng, gửi mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, thế chấp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ cũng bị nghiêm cấm. Cấm mang vũ khí, vật liệu nổ vào và ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nghiêm cấm đào bới, tìm kiếm vũ khí, vật liệu nổ khi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền.

Cùng với quy định trên, Pháp lệnh cũng quy định các trường hợp được phép và không được phép nổ súng. Bởi lẽ, nổ súng là quy định đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp  đến bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ người được trang bị vũ khí khi đang thi hành công vụ, quyền sống, quyền bất khả xâm phạm thân thể công dân. Theo đó, khi thi hành nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự có tổ chức, việc nổ súng phải tuân theo mệnh lệnh của người có thẩm quyền.

Còn khi thi hành nhiệm vụ độc lập, việc nổ súng phải tuân theo các nguyên tắc như: Phải căn cứ vào tình huống, tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của đối tượng để quyết định nổ súng. Chỉ nổ súng khi không còn biện pháp nào khác để ngăn chặn hành vi của đối tượng và sau khi đã cảnh bảo mà đối tượng không tuân theo. Nếu việc nổ súng không kịp thời sẽ đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe cho bản thân hoặc người khác, hoặc có thể gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác thì được nổ súng ngay.

Không được nổ súng vào đối tượng khi biết rõ người đó là phụ nữ, người tàn tật, trẻ em, trừ trường hợp những người này sử dụng vũ khí, vật liệu nổ tấn công hoặc chống trả, đe dọa tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ hoặc người khác.

Ngoài ra, Pháp lệnh cũng quy định, được phép nổ súng bắn vào phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đường thủy nội địa để dừng phương tiện đó trong các trường hợp: đối tượng điều khiển phương tiện đó tấn công, đe dọa trực tiếp đến tính mạng người thi hành công vụ hoặc người khác; khi biết rõ phương tiện đó do đối tượng phạm tội điều khiển cố tình chạy trốn, trừ trường hợp trên phương tiện có trở khách, hoặc có con tin.

Cũng được phép nổ súng khi biết rõ phương tiện cố tình chạy trốn có đối tượng phạm tội hoặc vũ khí, vật liệu nổ trái phép, tài liệu phản động, bí mật nhà nước, ma túy số lượng lớn, tài sản đặc biệt quý hiếm.

Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 30-6-2011 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2012.

Khánh Nguyễn

(Theo SGGP online)

ĐƯỢC GHI NỢ TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT TỐI ĐA 5 NĂM

Đó là một trong những điểm mới của Nghị định (NĐ) 120/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ 198/2004 về thu tiền sử dụng đất, có hiệu lực từ ngày 1-3-2011.

Đó là một trong những điểm mới của Nghị định (NĐ) 120/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ 198/2004 về thu tiền sử dụng đất, có hiệu lực từ ngày 1-3-2011.Nghị định 120 bổ sung nội dung cho phép các hộ gia đình, cá nhân chưa có khả năng tài chính có nguyện vọng ghi nợ tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ được cho ghi nợ với thời hạn tối đa 5 năm.

Trong thời hạn 5 năm, khi thanh toán nợ, người sử dụng đất nộp tiền sử dụng đất theo giá đất tại thời điểm cấp GCN QSDĐ và được trả nợ dần khi có khả năng về tài chính trong thời hạn tối đa là 5 năm. Sau 5 năm mà chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất tại thời điểm trả nợ. Đối với trường hợp đã được ghi nợ tiền sử dụng đất trước ngày 1-3-2011 (ngày NĐ 120 có hiệu lực) mà chưa thanh toán nợ thì nay được áp dụng quy định về thanh toán nợ tại NĐ này, tức là được cho phép ghi nợ tối đa không quá 5 năm kể từ ngày 1-3-2011. Sau 5 năm, nếu không thanh toán hết số nợ tiền sử dụng đất sẽ áp dụng giá đất tính tại thời điểm trả nợ.

NĐ này cũng đã bổ sung trường hợp được miễn tiền sử dụng đất. Cụ thể, các trường hợp được miễn tiền sử dụng đất như: đất giao để xây dựng ký túc xá sinh viên; đất để xây nhà ở cho người phải di dời do thiên tai; đất xây dựng nhà ở của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; đất xây dựng nhà ở để bán (trả tiền một lần hoặc trả góp), cho thuê, cho thuê mua đối với người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị; diện tích đất được giao để sử dụng vào mục đích lòng hồ thủy điện…

Ngoài ra, NĐ 120 cũng đã cho phép giảm 50% tiền sử dụng đất trong hạn mức đất ở đối với hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số; hộ nghèo tại các địa bàn không thuộc phạm vi các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo danh mục các xã đặc biệt khó khăn do Thủ tướng Chính phủ quy định khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất; công nhận (cấp giấy chứng nhận) quyền sử dụng đất lần đầu đối với đất đang sử dụng hoặc khi được chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở.

SỬA CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN KHÁNG CHIẾN

TT – Các quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ ngày 30-4-1975 trở về trước, có 20 năm trở lên phục vụ quân đội đã phục viên, xuất ngũ trước 1-4-2000 sẽ được hưởng chế độ hưu trí hằng tháng. Đó là một trong những nội dung mới trong nghị định vừa ban hành của Chính phủ nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 159 năm 2006.

TT – Các quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ ngày 30-4-1975 trở về trước, có 20 năm trở lên phục vụ quân đội đã phục viên, xuất ngũ trước 1-4-2000 sẽ được hưởng chế độ hưu trí hằng tháng. Đó là một trong những nội dung mới trong nghị định vừa ban hành của Chính phủ nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 159 năm 2006.

Theo quy định mới, cùng với những đối tượng trên thì quân nhân nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên đang được điều trị tại các trung tâm điều dưỡng thương binh hoặc đã về gia đình trước 1-4-2000, quân nhân chuyển ngành trước 1-1-1995 đều thuộc diện hưởng hưu trí hằng tháng.

Điều này cũng áp dụng cho các công an nhân dân trực tiếp tham gia chống Mỹ từ 30-4-1975 trở về trước, có 20 năm trở lên phục vụ trong lực lượng công an nhân dân.

* Chính phủ vừa ban hành nghị định về tổ chức và chính sách đối với thanh niên xung phong (TNXP). Theo đó, đội viên TNXP được hưởng tiền công và các chế độ, chính sách khác theo quy định của pháp luật. Đội viên TNXP được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình khi đang làm việc ở vùng khó khăn. Trong khi thực hiện nhiệm vụ, nếu có hành động dũng cảm bảo vệ an ninh quốc gia, tài sản nhà nước và tính mạng nhân dân nếu bị thương thì được hưởng chính sách như thương binh, nếu hi sinh thì được công nhận là liệt sĩ…