7d2898c3630feea92ec1553d16389ff6_L

ĐÀ NẴNG: ĐỔI MỚI VỊ TRÍ NGỒI TẠI PHIÊN XỬ

Đà Nẵng: Đổi mới vị trí ngồi tại phiên xử

11/05/2013 – 06:30

Theo chánh án TAND TP Đà Nẵng, việc đổi mới vị trí ngồi thể hiện tinh thần thay đổi mô hình xét xử theo hướng tranh tụng tiến bộ hơn.

Sự đổi mới mà TAND TP Đà Nẵng đang áp dụng rất cần được ngành tòa án cả nước nhân rộng ngay từ bây giờ.

Gần đây, TAND TP Đà Nẵng đã bố trí lại vị trí ngồi của những người tiến hành tố tụng và luật sư tại phiên tòa hình sự. Theo đó, HĐXX (thẩm phán, các hội thẩm nhân dân) sẽ ngồi ở vị trí cao nhất và riêng biệt. Ngồi phía dưới và ngay trước HĐXX là bàn của thư ký ghi biên bản phiên tòa. Cũng ngồi phía dưới ngang hàng nhưng ở hai bên và đối diện nhau là bàn của đại diện VKS và bàn của luật sư.

Thể hiện sự bình đẳng trong tranh tụng

Theo Thẩm phán Nguyễn Văn Quận (Chánh án TAND TP Đà Nẵng), việc đổi mới vị trí ngồi của những người tiến hành tố tụng và luật sư chính là sự thể hiện của tinh thần thay đổi từ mô hình tố tụng xét hỏi sang mô hình tranh tụng. HĐXX giữ vai trò tài phán nên phải ngồi ở vị trí biệt lập và cao nhất. Còn đại diện VKS và luật sư bào chữa lần lượt giữ các vai trò buộc tội và gỡ tội. Hai thành phần này có vai trò ngang nhau trong tố tụng nên cần phải ngồi ngang hàng nhau.

Trước đó, tại hội nghị triển khai công tác ngành tòa án TP Đà Nẵng năm 2013, Thẩm phán Lê Thị Ngọc Hà (Chánh tòa Hình sự TAND TP Đà Nẵng) cũng từng nhận định: “Chỗ ngồi trong phiên tòa hình sự thể hiện trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng”. Theo Thẩm phán Hà, sự đổi mới về vị trí ngồi của những người tiến hành tố tụng và luật sư mới đảm bảo được tính chất tài phán của tòa và sự bình đẳng trong tranh tụng giữa các bên buộc tội – gỡ tội.

Vị trí ngồi đổi mới tại một phiên tòa hình sự ở TAND TP Đà Nẵng. Ảnh: D.HẰNG

Cùng với sự thay đổi chỗ ngồi, TAND TP Đà Nẵng cũng đã có sự thay đổi rõ rệt trong cách thức xét hỏi tại phiên tòa hình sự. Trong phần xét hỏi, nếu trước đây chủ yếu do HĐXX trực tiếp xét hỏi bị cáo, người bị hại… thì nay HĐXX sẽ hạn chế hỏi, nhường quyền chủ động cho đại diện VKS. Khi nào có vấn đề còn khúc mắc, chưa được làm rõ thì chủ tọa phiên tòa hoặc các thành viên trong HĐXX mới yêu cầu đại diện VKS, luật sư tiếp tục xét hỏi để làm rõ vấn đề.

Theo Chánh án Quận, sự chuyển đổi từ mô hình xét xử xét hỏi sang xu hướng đề cao tính tranh tụng hơn này ban đầu ít nhiều cũng gặp khó khăn do đội ngũ thẩm phán, cán bộ tố tụng còn nặng thói quen cũ. Tuy nhiên, mọi thứ dần dần đã có sự thay đổi trong nội dung xét xử: Tính chất tranh tụng được nâng cao, tòa lấy kết quả tranh luận tại phiên tòa làm căn cứ tuyên án. “Cách thức này sẽ giảm triệt để vấn đề án tại hồ sơ, án bỏ túi” – Chánh án Quận khẳng định.

Cần nhân rộng

Hiện nay việc thay đổi cách thức xét hỏi, nâng cao tính tranh tụng, lấy kết quả tranh luận tại phiên tòa làm căn cứ tuyên án đã được áp dụng tại tất cả các tòa quận, huyện ở Đà Nẵng. Riêng việc đổi mới vị trí ngồi, trước mắt mới thực hiện tại TAND TP Đà Nẵng, sắp tới sẽ triển khai tại các tòa quận, huyện.

Chuyện vị trí ngồi của kiểm sát viên và luật sư đã gây ra khá nhiều tranh cãi từ trước tới nay. Gần chục năm trước, trong giai đoạn đầu của cải cách tư pháp, Pháp Luật TP.HCM cũng từng mở diễn đàn về vấn đề này. Thời điểm đó, rất nhiều ý kiến của các chuyên gia pháp lý, bạn đọc gửi về ủng hộ việc phải đổi mới vị trí ngồi như TAND TP Đà Nẵng đang áp dụng để đề cao sự bình đẳng trong tranh tụng.

Trong Đề án mô hình tố tụng hình sự Việt Nam do VKSND Tối cao đang chủ trì soạn thảo, các vấn đề về vị trí ngồi, cách thức xét hỏi, tranh luận… đều được ghi nhận theo xu hướng tiến bộ. Cho dù đây là chuyện của tương lai nhưng trước mắt, theo chúng tôi, sự đổi mới mà TAND TP Đà Nẵng đang áp dụng rất cần được ngành tòa án cả nước nhân rộng ngay từ bây giờ.

Khoảng gần ba năm trước, TAND tỉnh Bình Dương là tòa án đầu tiên trong cả nước đã tiến hành thí điểm việc thay đổi vị trí ngồi của HĐXX, kiểm sát viên, luật sư tại phiên tòa hình sự tương tự ở TAND TP Đà Nẵng. Rất tiếc là sau đó, dù được dư luận ủng hộ nhưng vì nhiều lý do khác nhau, cuối cùng việc thí điểm này phải dừng lại.

Trao đổi với chúng tôi, nhiều chuyên gia, đặc biệt là các luật sư cho biết rất hy vọng ngành tòa án Đà Nẵng sẽ thực hiện triệt để việc đổi mới này, đồng thời các địa phương khác cũng sẽ áp dụng vì một nền tố tụng tiến bộ và dân chủ hơn.

DƯƠNG HẰNG

(Theo Báo Pháp luật Tp.HCM)

LÚNG TÚNG VỚI TIN BÁO TỘI PHẠM

12/05/2013 – 07:20

Lúng túng với tin báo tội phạm Công an đang điều tra, xử lý tin báo của bà trưởng Trạm Kiểm dịch động vật Thủ Đức bị người lạ nhắn tin, gọi điện thoại dọa giết.

Chưa biết động cơ kẻ dọa là gì và việc điều tra của công an thế nào nhưng cách phản ứng của cơ quan tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm ít ra đã làm yên lòng người tố giác, làm kẻ dọa dẫm chùn tay.

Thực tiễn, nhiều trường hợp từ dọa giết đến giết người chỉ trong gang tấc nhưng khi nhận được tin báo tội phạm, công an không tổ chức bảo vệ người tố giác để tính mạng, sức khỏe của họ bị xâm phạm. Có điều này vì luật quy định việc tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm chưa rõ, tùy thuộc vào sự mẫn cảm của người tiếp nhận.

việc tiếp nhận, thẩm tra, xác minh, phân loại, xử lý tin báo, tố giác tội phạm còn nhiều bất cập, một phần do nhận thức của cơ quan có nhiệm vụ tiếp nhận, xử lý chưa thấy hết trách nhiệm của mình, còn coi việc xử lý tin báo tội phạm là việc giải quyết khiếu nại, một phần do các quy định của pháp luật còn thiếu, những quy định không rõ ràng.

Bộ luật Tố tụng hình sự chủ yếu quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, còn đối với cơ quan không phải là cơ quan tiến hành tố tụng (trong đó có cả công an cấp xã) nếu nhận được tin báo tội phạm chỉ có nhiệm vụ chuyển ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền. Luật quy định là chuyển ngay nhưng lại không quy định là bao lâu. Thực tế, khi nhận được tin báo tội phạm, công an thường tiến hành một số hoạt động xác minh có tính chất điều tra tiền tố tụng. Các hoạt động này, nếu không cẩn thận rất dễ vi phạm pháp luật; nhiều trường hợp công an lúng túng vì không cẩn thận sẽ làm oan người vô tội. Nhưng nếu quá cẩn thận, tiến hành các hoạt động xác minh trước khi khởi tố thì nhiều trường hợp tội phạm đã thực hiện xong, người phạm tội đã “cao chạy xa bay”.

Cạnh đó, người dân phát hiện tội phạm trong lĩnh vực trật tự an toàn xã hội thường chỉ báo với công an cấp xã trong khi công an cấp này không phải là cơ quan điều tra. Khi nhận được tin báo tội phạm, công an cấp này cũng chỉ có nhiệm vụ xác minh rồi báo tin về cho cơ quan điều tra chứ cũng không có quyền thực hiện các hành vi tố tụng.

Không chỉ công an cấp xã mà với công an cấp huyện, cấp tỉnh khi nhận được tin báo tội phạm cũng phải xử lý rồi mới chuyển cho cơ quan điều tra. Trong khi Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn nhưng không quá hai tháng. Nhưng trong thời hạn này, luật không quy định cho cơ quan điều tra được làm gì, không được làm gì, mà chỉ cho phép cơ quan điều tra kiểm tra, xác minh (hành vi tiền tố tụng). Việc tiến hành kiểm tra, xác minh như thế nào, có được kiểm tra nơi ở, chỗ làm việc hoặc có được gọi hỏi những người bị tố cáo và những người có liên quan khác không cũng chưa rõ…

Dù luật quy định cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm nhưng trên thực tế, người tố giác tội phạm không được bảo vệ, nhiều trường hợp bị trả thù. Pháp luật cũng chưa có những quy định cụ thể về việc bảo vệ người tố giác tội phạm.

Có quá nhiều điều còn hở nên các cơ quan tiến hành tố tụng cần hướng dẫn, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tiếp nhận tin báo tội phạm, đồng thời có chế độ thưởng đối với người tố giác tội phạm có giá trị để hành vi phạm tội bị ngăn ngừa trước khi xảy ra mới xử lý.

ĐINH VĂN QUẾ

(Nguồn: Báo pháp Luật Tp.HCM)

VỤ “SỔ ĐỎ ĐỂ TRONG NGÂN HÀNG… VẪN MẤT”: NGÂN HÀNG PHẢI BỒI THƯỜNG 2,6 TỈ ĐỒNG

11/05/2013 – 09:59

TAND TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) vừa tuyên bản án dân sự sơ thẩm buộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VN (phòng giao dịch Tân Lập, thuộc chi nhánh thị xã Buôn Hồ, Đắk Lắk) bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Thị Huệ hơn 2,6 tỉ đồng. Như đã thông tin, ngày 28-12-2009 gia đình bà Huệ (trú phường Tân An, TP Buôn Ma Thuột) có thế chấp cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn phòng giao dịch Tân Lập giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay 800 triệu đồng, thời hạn vay 12 tháng.

Ngày 5-12-2010, khi sắp đến thời hạn trả nợ, vì làm ăn khó khăn nên gia đình bà Huệ làm hợp đồng bán nhà với giá 12 tỉ đồng. Điều kiện hợp đồng là bà Huệ nhận trước 2 tỉ đồng của bên mua để thanh toán gốc và lãi cho ngân hàng và lấy sổ đỏ giao cho bên mua trước ngày 20-12-2010, sau đó nhận 10 tỉ đồng còn lại. Nếu vi phạm hợp đồng, bà Huệ sẽ phải trả lại tiền cọc, đồng thời chịu phạt hợp đồng 2 tỉ đồng…

Tuy nhiên ngày 16-12-2010, bà Huệ đem tiền đến phòng giao dịch Tân Lập để trả gốc và lãi thì được ngân hàng thông báo sổ đỏ của gia đình bà đã bị thất lạc! Sau nhiều lần khiếu nại không được, bà Huệ làm đơn khởi kiện Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VN đòi bồi thường hơn 3,3 tỉ đồng.

Phía Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn phòng giao dịch Tân Lập cho rằng tài sản thế chấp của bà Nguyễn Thị Huệ không bị thất lạc mà vẫn nằm ở ngân hàng. Việc gia đình bà Huệ làm hợp đồng bán nhà, sau đó vi phạm hợp đồng phải bồi thường không phải trách nhiệm của ngân hàng… Tuy nhiên, hội đồng xét xử nhận định ngày 16-12-2010, bà Huệ đưa tiền đến phòng giao dịch Tân Lập, lúc này lãnh đạo phòng giao dịch là ông Trần Đình Thanh cho biết sổ đỏ của bà Huệ và 11 khách hàng khác không còn trong ngân hàng.

Tiếp đó, ngày 25-12-2010, chi nhánh ngân hàng thị xã Buôn Hồ đã có công văn trả lời bà Huệ và xác định sổ đỏ của gia đình bà Huệ đã bị Võ Thị Hồng Điệp, cán bộ ngân hàng, lén đưa ra ngoài cầm cố vay tiền, tiêu xài cá nhân và hiện đang thất lạc. Ngày 19-5-2011, TAND tỉnh Đắk Lắk xét xử bị cáo Võ Thị Hồng Điệp (Điệp bị tuyên phạt tù chung thân tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) cũng xác định Điệp đã lấy nhiều tài sản thế chấp của khách hàng đi cầm cố vay tiền, trong đó có sổ đỏ của gia đình bà Huệ…

Hội đồng xét xử cũng nhận định việc thiệt hại của gia đình bà Huệ là thực tế và lỗi thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn phòng giao dịch Tân Lập vì đã không bảo quản tài sản thế chấp của khách hàng theo quy định.

Theo TR.T. (TTO)

SÁU NHÓM ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG KHÔNG ĐƯỢC ĐÌNH CÔNG

11/05/2013 – 00:35

(PL)- Chính phủ vừa ban hành Danh mục đơn vị sử dụng lao động không được đình công, có hiệu lực thi hành từ ngày 23-6.

Cụ thể, đó là đơn vị, doanh nghiệp sản xuất điện có công suất lớn, truyền tải điện và điều độ hệ thống điện quốc gia; thăm dò, khai thác dầu khí, sản xuất cung cấp khí gas; bảo đảm an toàn hàng không, hàng hải; cung cấp hạ tầng mạng viễn thông, dịch vụ bưu chính phục vụ cơ quan nhà nước; cung cấp nước sạch, thoát nước, vệ sinh môi trường ở các TP trực thuộc trung ương; đơn vị trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng. Việc giải quyết yêu cầu của các tập thể lao động này khi thương lượng tập thể không thành sẽ được Hội đồng Trọng tài lao động xem xét, giải quyết trong thời hạn ba ngày.

Ngày 10-5, đại diện tổ chức công đoàn cơ sở thuộc 10 công ty chuyên gia công áo quần, giày da cho nhãn hàng Puma đã tham gia dự án “Xây dựng quan hệ lao động hài hòa tại nơi làm việc”. Dự án này do Puma cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp TP.HCM tổ chức. Đại diện các tổ chức công đoàn nói trên nhận định đình công gia tăng do không tổ chức đối thoại. Thêm vào đó, 100% cán bộ công đoàn cơ sở hưởng lương từ doanh nghiệp nên khó đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho công nhân đến cùng.

Đ.LIÊN – PHONG ĐIỀN

(Nguồn ; Báo Pháp luật Tp.HCM)

TỪ 1-5, LAO ĐỘNG NỮ ĐƯỢC NGHỈ THAI SẢN SÁU THÁNG

01/05/2013 – 04:05

Tăng thời gian nghỉ thai sản cho lao động nữ

Theo Bộ luật Lao động năm 2012, từ ngày 1-5, thời gian nghỉ trước và sau khi sinh con của lao động nữ được tăng lên sáu tháng thay vì bốn tháng như quy định hiện hành. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm một tháng. Lao động nữ cũng có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất bốn tháng nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và được người sử dụng lao động đồng ý. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về BHXH.

Bộ luật này còn quy định: Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó, tăng 15% so với quy định cũ chỉ có 70%. Bộ luật cũng nêu rõ mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường; phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ và do Chính phủ công bố căn cứ trên nhu cầu sống tối thiểu của người lao động, điều kiện kinh tế, xã hội hoặc thông qua thương lượng tập thể ngành.

 

Đặng Liên

(Nguồn: Báo Pháp luật Tp.HCM)

COI CHỪNG “BẪY” TRONG THẾ CHẤP NHÀ

09/03/2013 – 04:05

Thế chấp nhà giúp bạn vay tiền ngân hàng. Do hợp đồng thế chấp không ghi thời hạn nên ngân hàng tiếp tục ký hợp đồng cho vay mới mà không cần hỏi ý kiến của chủ nhà.

Ngày 16-6-2010, ông Nguyễn Văn Hiền (quận Tân Bình, TP.HCM) làm hợp đồng thế chấp căn nhà của ông để bảo đảm cho công ty của người bạn vay 1,1 tỉ đồng tại một ngân hàng có phòng giao dịch ở đường Lý Thường Kiệt. Thời hạn người bạn vay tiền là một năm.

Đến cuối thời hạn vay, ông Hiền đã đến ngân hàng thông báo chấm dứt việc bảo lãnh để lấy lại giấy tờ nhà. Lúc đó ngân hàng hẹn “sẽ giao giấy sau khi hoàn thành các thủ tục công chứng đăng ký giao dịch bảo đảm tài sản khác thay thế”. Gần tháng sau ông quay trở lại thì mới biết “tin dữ”: Tháng 7-2011, sau khi tất toán hợp đồng vay cũ, ngân hàng đã tiếp tục ký hợp đồng khác cho người bạn vay 1,1 tỉ đồng trong thời hạn một năm. Điều đáng nói là ngân hàng tiếp tục lấy tài sản của ông để bảo đảm cho khoản vay này. Không đồng ý, ông đã khiếu nại.

Người dân đang làm thủ tục vay tiền tại một ngân hàng. Ảnh: TH.HIẾU

Trong văn bản trả lời ông, ngân hàng cho biết: Điều 2 hợp đồng thế chấp cũ có chữ ký của ông Hiền đã nêu rõ: “Nghĩa vụ được bảo đảm của tài sản thế chấp là toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ cho bên vay/bên được cấp tín dụng… và bao gồm cả nghĩa vụ phát sinh trước hoặc sau thời điểm ký hợp đồng này”. Điều 12 của hợp đồng cũng lưu ý: “Hợp đồng này được sử dụng cho nhiều lần vay, cấp thẻ tín dụng, mở L/C hoặc các hình thức cấp tín dụng khác… và bên thế chấp chấp nhận nội dung tất cả điều khoản trong các hợp đồng tín dụng, hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng sửa đổi bổ sung, phụ lục hợp đồng, các cam kết của bên vay… kể cả trong trường hợp bên thế chấp không ký tên trên các hợp đồng cam kết này”. Theo đó, ngân hàng đã tiếp tục căn cứ vào hợp đồng thế chấp cũ để cho khách hàng vay lần nữa mà không cần ông Hiền phải ký tên xác nhận.

“Tại sao tôi đã đến báo không muốn bảo lãnh nữa mà ngân hàng lại không chịu nghe? Tại sao trong hợp đồng vay có ghi “bên bảo đảm giữ một bản” và chừa chỗ để bên bảo đảm ký tên mà ngân hàng lại không gửi hợp đồng vay tiền lần hai cho tôi và cũng không để tôi ký tên?” – ông Hiền bất bình.

Trao đổi với PV, giám đốc phòng giao dịch trên giải thích: “Ngân hàng có ghi nhận việc ông Hiền đến báo lấy lại giấy tờ nhà và không tiếp tục bảo lãnh. Thế nhưng khi nào tiếp nhận tài sản khác thay thế thì ngân hàng mới có thể làm thủ tục trả giấy tờ nhà cho ông Hiền. Hợp đồng cho vay năm 2011 không cần chữ ký của người bảo lãnh vì đây là hợp đồng giữa bên cho vay với bên vay. Hiện ngân hàng đang khởi kiện công ty vay tiền để thu hồi nợ”.

Các ngân hàng khác làm sao?

Đối với việc thế chấp tài sản của người thứ ba để bảo đảm khoản vay (còn gọi là hợp đồng bảo lãnh), PV được biết nhiều ngân hàng khác làm rất chặt chẽ. Sau khi hết hạn hợp đồng cho vay mà người vay muốn vay tiếp, các ngân hàng đều yêu cầu người bảo lãnh ký lại hợp đồng bảo lãnh, đồng thời ký tên vào hợp đồng vay mới. Người bảo lãnh cũng được giao giữ một bản hợp đồng vay mới.

THÁI HIẾU

(Nguồn: Báo Pháp luật Tp.HCM)

1c16c516e210dd8881751624cc1315d7_L

BỊ GIỮ BẰNG LÁI, CÓ ĐƯỢC CHẠY TIẾP?

Bị giữ bằng lái, có được chạy tiếp?

20/07/2012 – 00:39

(PL)- Sau khi bị lập biên bản vi phạm “chở quá số người” và bị tạm giữ giấy phép lái xe thì tài xế tiếp tục chạy và gây ra tai nạn.

Công ty bảo hiểm từ chối thanh toán nhưng chủ xe không đồng ý, viện lẽ tài xế vẫn có quyền lái xe.

Ngày 10-7, Trung tâm Trọng tài quốc tế – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã thụ lý vụ kiện tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa ông H. (TP Phan Rang, Ninh Thuận) với Công ty Bảo hiểm B.

Lái xe khi giấy phép đang bị tạm giữ

Theo trình bày của ông H., tháng 3-2011, ông có mua bảo hiểm cho chiếc ô tô mới của mình tại Công ty Bảo hiểm B. với thời hạn một năm.

Ngày 12-10-2011, tài xế T. là bạn của ông H. lái chiếc xe trên cùng ông đi công tác miền Trung. Khi đến địa phận tỉnh Phú Yên, tài xế bị CSGT Phú Yên lập biên bản vi phạm vì lỗi chở quá số người quy định trên buồng lái xe. CSGT tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) của tài xế và hẹn 10 ngày sau giải quyết. Liền sau đó, xe ô tô tiếp tục lưu thông đến Quảng Ngãi. Sáng 14-10, khi xe đến địa bàn thị trấn Sông Vệ, huyện Tư Nghĩa thì xảy ra tai nạn giao thông. Vụ tai nạn không gây thiệt hại gì về người nhưng khiến ô tô hư hỏng nặng phần đầu xe.

Sau khi Công an huyện Tư Nghĩa giải quyết tai nạn xong, ông H. đã yêu cầu công ty bảo hiểm chi trả tổn thất. Tuy nhiên, công ty đã từ chối thanh toán bảo hiểm.

Sau khi bị tạm giữ GPLX, nhiều người vẫn tiếp tục lái xe và nếu bị CSGT “tuýt còi” thì họ trưng ra biên bản tạm giữ GPLX để thay thế.Ảnh chỉ mang tính minh họa. Ảnh: HTD

Mỗi bên mỗi lẽ

Công ty nhận định vào thời điểm xảy ra tổn thất, người điều khiển xe đã không xuất trình được GPLX hợp lệ. Điều này là vi phạm nhiều quy định liên quan. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 20 Quyết định số 54/2007 của bộ trưởng Bộ GTVT, GPLX phải được mang theo người khi lái xe. Theo quy định tại Thông tư 126/2008 của Bộ Tài chính, nếu lái xe không có GPLX hợp lệ thì bị loại trừ bảo hiểm. Quy tắc bảo hiểm kết hợp xe cơ giới của Tổng Công ty Bảo hiểm B. cũng loại trừ bảo hiểm trong trường hợp “tại thời điểm xảy ra tai nạn, lái xe không có GPLX hợp lệ”. Ngoài ra, Công văn 1644/2009 của Cục Đường bộ VN có nêu “không có bất cứ giấy tờ nào có thể thay thế GPLX khi lái xe”.

Ông H. đã không đồng ý với các ý kiến nêu trên của công ty bởi lẽ sự thật thì tài xế có GPLX hợp lệ. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, tài xế chỉ bị tạm giữ GPLX để CSGT giải quyết việc vi phạm giao thông chứ không phải không có GPLX hay bị tước GPLX.

Trên thực tế, những trường hợp như của tài xế T. vẫn thường xuyên xảy ra. Sau khi bị tạm giữ GPLX, nhiều người vẫn tiếp tục lái xe và nếu bị CSGT tuýt còi thì họ trưng ra biên bản tạm giữ GPLX để thay thế. Đa số CSGT chấp nhận sự thay thế này và đã không xử phạt người lái xe hành vi “không có GPLX”. Chính vì lẽ đó mà nhiều người, trong đó có cả các chuyên gia pháp luật, đã có hai luồng ý kiến khác nhau về trường hợp của ông H. Bên cho rằng phía ông H. đúng, công ty bảo hiểm sai; bên cho rằng phía ông H. sai, công ty bảo hiểm đúng. Vậy theo bạn đọc thì ai đúng, ai sai?

Vi phạm Luật Giao thông đường bộ

Theo điểm b khoản 2 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 2 Điều 40 Thông tư số 07/2009 của Bộ Giao thông vận tải, người điều khiển phương tiện giao thông phải mang theo người GPLX phù hợp với hạng xe. Điểm b khoản 4 Điều 24 Nghị định 34/2010 của Chính phủ có quy định phạt tiền từ 120.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không mang theo GPLX… Vì vậy, khi người lái xe bị cơ quan thẩm quyền tạm giữ GPLX nhưng vẫn điều khiển phương tiện trong tình trạng không có GPLX là vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ.

Ông NGUYỄN VĂN QUYẾN, Phó Tổng cục trưởng
Tổng cục Đường bộ VN

(Theo Công văn số 4629 ngày 28-11-2011
của Tổng cục Đường bộ VN)

Được tiếp tục chạy

Theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 8 Nghị định 34/2012 của Chính phủ thì hành vi vi phạm để người ngồi trên buồng lái quá số người quy định không bị áp dụng các hình thức phạt bổ sung (như tước GPLX). Theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung), trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Do không thuộc trường hợp này nên trong thời gian bị tạm giữ GPLX, tài xế T. vẫn được điều khiển phương tiện.

Trung tá ĐẶNG VĂN NAM,
Phó Trưởng Công an huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi

(Theo nội dung xác nhận ngày 4-11-2011
vào tờ tường trình của tài xế T.)

ÁI NHÂN

(Nguồn : Báo Pháp luật Tp.HCM)

HÀNH TRÌNH LY HÔN – BÀI 1: MÒN MỎI TÌM… NGƯỜI

PN – Ly hôn là lựa chọn của không ít người khi hôn nhân bế tắc, không đạt mục đích. Thống kê cho thấy, các tòa án quận huyện mỗi năm thụ lý từ 500 đến hơn 1.000 vụ ly hôn. Một số thẩm phán còn cho biết, chỉ một năm, họ đã “xử” hơn 300 vụ. Nhưng, ly hôn nào phải dễ dàng khi người trong cuộc cố tình… biến mất.

Anh… ở đâu?

Suốt 5 năm qua, chị N.T.P. phải lặn lội khắp nơi tìm chồng để… ly hôn. Năm 2002, chị và anh N.S.Đ. ngụ ở Tân An Hội, Củ Chi kết hôn, sinh được một bé gái. Do mâu thuẫn với gia đình chồng, chị P. bồng con về nhà mẹ ruột. Thời gian đầu, anh Đ. có qua lại thăm con nhưng sau đó, anh… biến mất. Năm 2005, chị P. nghe tin anh Đ. bị kết án tù giam vì tội cướp giật tài sản, nghĩ tình chồng vợ, chị lặn lội thăm nuôi. Khoảng hơn hai năm sau, chị nghe anh được trả tự do sớm và đi đâu không biết. Chị tìm đến gia đình anh, được người nhà anh khuyên hãy quên anh đi, vì anh đã có vợ con khác rồi.

Cảm thấy mình bị phản bội, chị P. nộp đơn xin ly hôn, nhưng TAND Q.Gò Vấp không thụ lý đơn vì anh Đ. không cư trú hoặc tạm trú ở Gò Vấp. Quay về Củ Chi, tòa cũng không nhận đơn của chị. Loay hoay suốt mấy năm, chị không biết làm cách nào để được “tự do”. Cuối năm 2012, TAND huyện Củ Chi đồng ý thụ lý đơn của chị P., nhưng là để tuyên bố sự mất tích của anh Đ., sau đó mới tính đến chuyện ly hôn… Chị P. lại mất sáu tháng làm các thủ tục công bố anh Đ. mất tích như xác nhận ở nơi cư trú cũ, đăng thông báo trên các phương tiện truyền thông…, vẫn chưa ly hôn được. Chị mệt mỏi: “Biết là phải “đi” từng bước theo luật, nhưng giá cán bộ thụ lý ở hai tòa án Gò Vấp và Củ Chi hướng dẫn cho tôi kỹ hơn, chắc tôi đã được ly hôn từ lâu rồi!”.

Chồng của chị N.H.A. ở Q.12 thì “thoắt ẩn, thoắt hiện”. Từ năm 2009, anh theo người phụ nữ khác, bỏ mặc chị một mình nuôi hai con nhỏ. Chồng bỏ đi hơn một năm, rồi căn nhà đang ở bị giải tỏa, chị A. phải ôm hai con tìm nơi thuê nhà sinh sống. Sau đó, chị gặp một người đàn ông tốt bụng, đã cưu mang ba mẹ con chị. Thương chị, anh đặt vấn đề kết hôn. Chị bắt đầu đi tìm chồng cũ để ly hôn nhưng anh H.B. – chồng chị, đã chuyển hộ khẩu về Lâm Đồng từ lâu, chính quyền địa phương cũng không rõ nơi chuyển đến của anh. Chị A. đăng báo gọi anh về ly hôn, thì anh gọi điện bảo chị đợi khi nào anh ta… chết rồi ly hôn một thể! Chị A. khóc: “Anh ta làm khó kiểu đó đã khiến người mới hiểu lầm, vì thấy tôi cứ vướng mắc, dù chỉ là giấy tờ với người cũ”.

Mòn mỏi

Anh N.C.N. và chị T.T.T. từng có bốn năm chung sống hạnh phúc. Cuộc sống của anh chị có lẽ sẽ rất yên bình nếu như chị T. đừng tin lời thầy bói: “Anh N. số đào hoa, nếu không canh giữ, sẽ nhiều vợ”. Nghe thầy bói, chị yểm bùa khắp nhà và… theo sát canh chừng chồng. Anh N. nổi quạu: “Nghe lời thầy bói, cô ấy ghen tuông bậy bạ làm tôi bẽ mặt. Bốn năm dài, tôi chịu hết xiết, phải nộp đơn ly hôn. Biết tôi nộp đơn cho tòa, cô ấy biến mất khỏi nơi cư trú. Tôi tìm mãi mới biết được nơi ở mới của cô ấy tận Vũng Tàu nhưng cô lại không ra trình diện tòa khi được triệu tập. Hai năm ròng, dù trốn tránh tòa nhưng cô ấy vẫn đeo bám tôi như đỉa. Cuối cùng, nhờ một luật sư mách nước, tôi ghi âm, ghi hình và lập chứng cứ nơi cư trú của cô ấy nộp cho tòa. Tòa đã quyết định cho tôi ly hôn, dù ngày tòa tuyên phán quyết, cô ấy vẫn cố tình trốn tránh. Sau ba năm mòn mỏi tôi mới thoát được cuộc hôn nhân oái oăm đó”.

Không may mắn như anh N., 12 năm qua, anh K.V.H., ở Q.5, vẫn phải “đeo” tấm giấy ghi chú kết hôn với người vợ mang quốc tịch Mỹ, dù chẳng còn biết chị ta đang ở đâu. Tìm đến Báo Phụ Nữ cầu cứu, anh H. kể: “Năm 2001, vì muốn “đổi đời”, tôi vay mượn để làm thủ tục kết hôn giả với một kiều bào. Nào ngờ, làm thủ tục kết hôn xong, cô ấy về Mỹ rồi mất tăm luôn. Khi ra tòa hỏi thủ tục ly hôn, tòa bảo tôi phải tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp, dịch thuật đơn từ…”. Không có tiền, nên anh H. đành bấm bụng chờ đợi người vợ ấy “từ tâm” quay về suốt 12 năm qua! Anh nói: “Người tôi yêu chờ đợi tôi đã quá lâu mà tôi vẫn không ly hôn được. Giờ tôi không biết phải làm sao”.

Mỗi năm, TP.HCM tồn đọng trên 1.000 vụ án hôn nhân. Trong đó, án hôn nhân có yếu tố nước ngoài có tỷ lệ giải quyết luôn thấp hơn án trong nước (năm 2011, chỉ có 736 vụ được giải quyết trên tổng số 1.121 vụ; năm 2012 là 496/928 vụ).

Theo ông Bùi Văn Trí – Phó chánh Tòa dân sự TAND TP.HCM: “Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý đến ngày quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đối với vụ án phức tạp, thời hạn chuẩn bị xét xử được kéo dài thêm hai tháng. Đối với vụ án ly hôn có một bên đương sự ở nước ngoài thì tòa án phải ủy thác tư pháp cho Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài hoặc tòa án có thẩm quyền của nước ngoài để thông báo việc thụ lý vụ án và ngày giờ xét xử cho đương sự ở nước ngoài biết. Sau khi có kết quả ủy thác tư pháp, tòa án mới quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thời hạn ủy thác cho đương sự ở nước ngoài tối thiểu là sáu tháng, tối đa 18 tháng; đối với vụ án phức tạp thời hạn trên có thể kéo dài hơn”. Tuy nhiên, vì rất nhiều nguyên do, không ít án dân sự về ly hôn kéo dài năm, sáu năm trời. Có trường hợp, con chung của hai đương sự khi nộp đơn ra tòa vẫn còn là một đứa trẻ, cần được cấp dưỡng, nhưng khi tòa đưa ra xét xử, đứa bé đã trưởng thành!

Nghi Anh

Kỳ tới: “Ly mà không thoát”

(Nguồn: Báo phụ nữ Tp.HCM)

Các thủ tục để xin ly hôn có yếu tố nước ngoài

– Đơn xin ly hôn (theo mẫu). Nếu hai người thuận tình ly hôn thì đơn ly hôn phải do cả hai cùng ký và cùng nộp đơn. Trường hợp đơn ly hôn do vợ, chồng cùng ký (thuận tình ly hôn) nhưng một bên vắng mặt khi nộp đơn thì phải có xác nhận chữ ký của bên vắng mặt của chính quyền địa phương hoặc sứ quán Việt Nam tại nước ngoài.

– Bản sao giấy CMND (hộ chiếu); hộ khẩu (có sao y bản chính).

– Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có). Trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn kiện.

– Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).

– Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

– Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh và đã xóa tên trong hộ khẩu.

– Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn tại tòa án có thẩm quyền. Trong trường hợp các bên không tiến hành ghi chú nhưng vẫn muốn ly hôn thì trong đơn xin ly hôn phải trình bày rõ lý do không ghi chú kết hôn.

Thời hạn xét xử: Từ ba đến sáu tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.

(Theo quy định được niêm yết tại Tòa án nhân dân TP.HCM)

HÀNH TRÌNH LY HÔN – BÀI 2: “LY” MÀ KHÔNG “THOÁT”

PN – Sau khi cầm quyết định ly hôn của tòa án, những tưởng được “tự do”, nhưng nhiều người đã không thể thoát được cuộc hôn nhân cũ. Hay nói đúng hơn là không thoát khỏi người vợ hoặc chồng cũ!

HẾT DUYÊN… CÒN NỢ

Chỉ tính riêng năm 2012, Báo Phụ Nữ đã tiếp nhận hàng chục lá đơn kêu cứu của những trường hợp dù ly hôn rồi vẫn còn bị vợ cũ theo dõi, phá bĩnh hay bị chồng cũ đánh đập, lăng nhục. Nguyên nhân hầu hết là để tranh đoạt tài sản.

Tiếp chúng tôi trong căn phòng trọ nóng như nung ở xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, chị L.T.T., SN 1965, nói trong nước mắt: “17 năm chung sống, từ tay trắng, vợ chồng đã cùng tạo lập được một xưởng dệt với hàng ngàn mét vuông đất ở Củ Chi, vậy mà, ngay từ lúc chưa ly hôn, anh ta chửi mắng, đuổi thẳng ba mẹ con tôi khỏi nhà, đưa người phụ nữ khác về chung sống. Vì con, tôi phải nghỉ làm, chuyển trường về nơi mới để giúp con ổn định lại tinh thần sau cú sốc ba phản bội mẹ. Tòa xử anh ta phải chia lại tôi một phần tài sản trị giá hơn một tỷ đồng, nhưng anh ta không thi hành án. Tháng 12/2012, sau hai năm mòn mỏi khiếu kiện, tôi được anh ta thông báo về Củ Chi nhận phần tài sản của mình thì mới biết toàn bộ nhà xưởng ở đây đã cháy rụi, dù bán đổ tháo cũng chưa đủ trả nợ khoản vay ngân hàng mà anh ta từng mang xưởng này đi thế chấp! Từ ngày giao cho tôi đống nợ, anh ta bỏ đi Bình Dương sống cùng người mới. Tôi hết duyên mà vẫn còn mang nợ!”.

Ly hôn từ năm 2007, chờ suốt sáu tháng, chẳng những không được cấp dưỡng nuôi con, mà còn bị chồng đuổi khỏi nhà cùng con trai, chị L.T.U.N. ở Q.2 đã khởi kiện tranh chấp tài sản chung.

Tính từ ngày khởi kiện đến nay đã sáu năm, chị U.N. vẫn mòn mỏi chờ. Sau khi vụ kiện sơ thẩm ở Q.2 kết thúc, không đồng ý với phán quyết đầy bất công của tòa, chị kiện lên Tòa phúc thẩm. Sau khi thụ lý, TAND TP.HCM quyết định hủy toàn bộ bản án cũ, cho tiến hành điều tra lại vì TAND quận sai nhiều thủ tục tố tụng. Từ lúc trả đơn về Q.2 đến nay hơn hai năm, chị U.N. tiếp tục chờ… Trong khi đó, trên mảnh đất được xác nhận là tài sản chung hiện có 43 phòng trọ, một nhà kho và một quán ăn do anh N. quản lý thu được huê lợi mỗi tháng vài chục triệu đồng. Chị U.N. bức xúc: “Bao giờ tòa mới đưa vụ việc ra xét xử? Trong khi những khoản tiền vay nợ chung từ ngân hàng phát sinh lãi quá hạn ông N. không đóng và cũng không chia tiền để tôi đóng. Lúc ly hôn, con trai tôi chỉ 16 tuổi, quyết định ông N. cấp dưỡng mỗi tháng bốn triệu đồng nuôi con, ông ấy cũng không thi hành. Nay cháu 22 tuổi, tôi kiện như thế nào để truy lãnh tiền đó cho con? Năm 2008, sau khi đe dọa tôi vì tranh chấp tài sản, ông N. đã đánh tôi gãy tay, giờ tôi mất khả năng lao động. Của cải trên danh nghĩa có hàng chục phòng trọ và một căn biệt thự nhưng tôi lại đang phải đi ở trọ!”.

THẢM HỌA CHUNG NHÀ

Cũng vì tranh chấp tài sản với chồng cũ, chị N.T.T.L., ngụ ở Q.11, rơi vào tình trạng ly mà không thoát. Anh chị chung sống hơn 18 năm, chung tay cất được ngôi nhà ba tấm khang trang. Nhà xây xong thì chị L., phát hiện anh T.V.X., chồng chị, có bồ và đã có một đứa con rơi, là con trai, trong khi chị L. sinh một lèo ba cô con gái. Vì thế, anh X. dẫn ngay người mới về nhà, chiếm trọn tầng trệt và tầng một làm tổ uyên ương. Chị L. làm dữ, anh X. chìa ra lá đơn ly hôn. Sau khi tòa chia đôi tài sản cho chị: một nửa căn nhà và một nửa số nợ gần 400 triệu đồng, chị không biết làm sao lấy nhà cũng chẳng biết làm sao trả nợ. Anh X. và người vợ mới khẳng định không có tiền “thối” lại cho chị ra khỏi nhà, còn thách thức: “Có giỏi thì đi kiện, chúng tôi đi hầu”. Vậy là suốt bốn năm qua, chị phải ra vào chung một nhà với những người lẽ ra “không đội trời chung”.

Một mình làm công nhân ở xí nghiệp in, chị lo cho con ăn học được đã là may. Trong khi lấy trọn mặt bằng tầng trệt, anh X. và vợ mới sống ung dung, nhàn hạ. Chị L. bật khóc: “Đôi lúc thấy các con nghe mùi thức ăn nhà dưới xộc lên, len lén nuốt nước miếng mà xót cả lòng. Nhưng, nếu ra khỏi ngôi nhà ấy, coi như mấy mẹ con mất trắng. Mà đi thì cũng chẳng biết đi đâu vì tiền lương của tôi chỉ hơn năm triệu đồng, nếu gánh thêm tiền thuê nhà, sống sao nổi?”.

Chưa có vợ mới, nhưng người chồng cũ sống chung nhà với chị L.T.N.B., ở Thủ Đức lại liên tục cưỡng bức, bạo hành chị. Cứ cách hai ba đêm, anh ta lại mò vào phòng chị một lần. Ban đầu, do hai con còn quá nhỏ, chị B. không dám kêu cứu. Biết điểm yếu của chị, anh chồng cũ ngày càng lấn tới. Khi chị quyết liệt chống cự, anh ta đánh đập chị không thương tiếc. Cuối cùng, sau hai năm chịu đựng, B. bế hai con bỏ trốn về quê ở Quảng Ngãi.

Vấn nạn chồng cũ là một nỗi nhức nhối không chỉ riêng của người phụ nữ rơi vào hoàn cảnh đó mà còn là bi kịch cho những đứa trẻ lỡ sinh trong gia đình có người chồng, người cha tệ bạc, cạn tàu ráo máng. N.T.N., sinh viên năm thứ tư, giờ phải ở trọ trên tầng bốn của tòa nhà sáu tầng do cha mẹ mình từng là đồng sở hữu (giờ đã thành tổ ấm mới, là cơ sở kinh doanh làm ra tiền tỷ của cha) cay đắng nói: “Luật pháp đã không bảo vệ quyền lợi của mẹ con tôi. Lẽ ra, việc cha tôi phản bội mẹ, vi phạm Luật HNGĐ khi đưa người phụ nữ khác về chung sống, phải là một yếu tố để quy lỗi, bắt ông phải để phần tài sản nhiều hơn cho mẹ tôi nhưng luật chỉ yêu cầu chia đôi bình thường. Người gây lỗi là cha tôi, do có hộ khẩu ở căn nhà đó, đã ngang nhiên đuổi mẹ con tôi ra khỏi căn nhà chung. Tôi thật không biết phải kêu cứu ở đâu để giúp mẹ lấy lại công bằng”.

Nghi Anh

(Nguồn: Báo Phụ nữ Tp.HCM)

Chị em cần được tư vấn pháp luật từ đầu

Bộ Luật Tố tụng dân sự tại các điều 27, 28 quy định về thẩm quyền giải quyết của tòa án đối với vụ việc hôn nhân và gia đình và điều 179 khoản a quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử là bốn tháng.

Trường hợp của chị L.T.T., vụ việc đã được tòa án giải quyết xong, chị L.T.T. phải yêu cầu thi hành án. Nếu người chồng không chấp hành, sẽ bị cưỡng chế. Chị L.T.T. đã gửi đơn khiếu kiện khắp nơi, nhưng không đúng thẩm quyền, nên không được giải quyết. Riêng chị U.N., do không đồng ý với bản án sơ thẩm nên vụ án bị tòa phúc thẩm tuyên hủy và xét xử lại từ đầu, dẫn đến kéo dài thời gian. Vụ án kéo dài hơn hai năm là sai về thủ tục tố tụng, chị U.N. phải làm đơn khiếu nại, yêu cầu làm rõ lý do.

Các chị không nên bỏ nhà đi trong thời gian giải quyết việc ly hôn, vì làm như thế càng tạo điều kiện cho người chồng tẩu tán tài sản. Trường hợp bị hành hung, theo Luật PCBLGĐ, các chị có quyền yêu cầu chính quyền địa phương, Hội Phụ nữ và các tổ chức xã hội can thiệp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chị U.N. còn có thể yêu cầu cơ quan công an Q.2 khởi tố vụ án “cố ý gây thương tích” theo điều 104 Bộ luật Hình sự.

Trường hợp ly hôn mà vẫn ở chung nhà, thì nên yêu cầu cơ quan thi hành án xem xét hoàn cảnh của các bên đưa ra cách giải quyết hợp tình hợp lý.

Để giải quyết một cách trọn vẹn việc ly hôn và các vấn đề liên quan đến hôn nhân, các chị nên tham khảo ý kiến tư vấn của luật sư, luật gia ngay từ khi bắt đầu vụ việc, mới tránh được những hậu quả khó xử.

Văn phòng trợ giúp pháp lý phụ nữ số 6

Mời bạn đọc tham gia diễn đàn Ly hôn có là lối thoát?

Theo số liệu của TAND TP.HCM, năm 2012, ngành tòa án đã thụ lý 19.893 vụ ly hôn, tăng 577 vụ so với năm 2011. Như vậy, trong vòng 5 năm qua, mỗi năm TP.HCM tăng thêm trên 500 vụ ly hôn, một con số chóng mặt. Phải chăng ly hôn đang là “mốt” của nhiều người, đặc biệt là giới trẻ? Phải chăng chuyện gì cũng có thể khiến người ta dẫn nhau ra tòa, bất chấp những hệ lụy? Mời các bạn tham gia diễn đàn Ly hôn có là lối thoát? để phân tích nguyên nhân, đưa ra những giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng ly hôn, gìn giữ mái ấm gia đình. Bài viết từ 800 – 1.000 chữ, chưa sử dụng trên bất cứ phương tiện truyền thông nào, gửi về địa chỉ: lyhonlaloithoat@baophunu.org.vn.

Báo Phụ Nữ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUYỀN THỪA KẾ

I/ Khái niệm quyền thừa kế

Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là công dân, tổ chức. Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được thể hiện theo hai chủ thể nhất định, đó là chủ thể để lại tài sản (quyền của người để lại di sản) và chủ thể hưởng thừa kế di sản (quyền của người nhận di sản). Quyền thừa kế thuộc về tổ chức được thể hiện theo một chủ thể nhất định, đó là chủ thể hưởng thừa kế di sản (và chỉ trong trường hợp thừa kế theo di chúc).

Khi xem xét về vấn đề thừa kế thì di sản là một trong những vấn đề được quan tâm trước tiên. Di sản là cơ sở để thiết lập di chúc bên cạnh các căn cứ khác. Chỉ khi di sản còn tồn tại trên thực tế thì người lập di chúc mới có “cái” để định đoạt.

Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi. Người có hay không có năng lực hành vi hoặc người có năng lực hành vi không đầy đủ đều có quyền thừa kế. Trong trường hợp này, người giám hộ sẽ thực hiện giúp những người này các quyền và nghĩa vụ trong phạm vi tài sản của họ.

II/ Quyền của người để lại tài sản – một số vấn đề vướng mắc

Đối với cá nhân người để lại tài sản, với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của bản thân. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân trong việc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của họ trước khi chết.

Theo quy định tại Điều 648 Bộ luật dân sự thì,  người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Ngoài ra, tại Điều 662 BLDS còn quy định, người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc.

1. Chỉ định người thừa kế

Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào. Họ có thể là con, cha, mẹ, vợ, chồng… của người thuộc diện thừa kế theo luật dựa trên các quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ huyết thống; và cũng có thể là những người khác như Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội,…

2.  Truất quyền hưởng di sản

Quyền định đoạt của người lập di chúc còn được thể hiện thông qua việc họ có thể truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật, mà không nhất thiết phải nêu lý do. Người lập di chúc có thể chỉ định một hay nhiều người thừa kế theo luật không được hưởng di sản thừa kế của mình.

Tuy nhiên, do pháp luật không quy định cụ thể như thế nào là “truất” nên hiện nay còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có quan điểm cho rằng, người bị truất quyền hưởng di sản là trường hợp người lập di chúc thể hiện rõ ràng trong di chúc rằng một hoặc nhiều người thừa kế theo pháp luật không có quyền hưởng di sản. Trong trường hợp này, nếu di chúc bị vô hiệu toàn bộ, thì tư cách người thừa kế theo luật của những người nói trên không ảnh hưởng. Tuy nhiên, trong trường hợp di chúc có hiệu lực toàn bộ hoặc có một phần vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của việc truất quyền hưởng di sản thì tư cách người thừa kế theo luật của họ đương nhiên bị mất. Do vậy, nếu có phần di sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực, được chia theo pháp luật thì người đó vẫn không được hưởng. Quan điểm khác cho rằng, người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc nhưng không được người lập di chúc chỉ định hưởng tài sản. Khi đó người thừa kế không được chỉ định trở thành người bị truất quyền hưởng di sản. Trong trường hợp này, nếu có phần tài sản nào đó không được định đoạt trong di chúc, được chia theo pháp luật thì họ vẫn sẽ được hưởng, vì họ là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản, quyền thừa kế của họ có được là do luật định.

3.  Quyền phân định di sản cho từng người thừa kế

Người lập di chúc có quyền phân chia một cách cụ thể di sản của mình cho người thừa kế. Người lập di chúc có quyền phân chia di sản cho mỗi người không nhất thiết phải ngang nhau mà không cần phải nêu lý do. Người lập di chúc cũng có thể chỉ định nhiều người thừa kế và di sản được chia đều cho những người có tên trong di chúc. Nếu những người này có sự thỏa thuận về việc hưởng di sản thì việc phân chia di sản sẽ tuân theo sự thỏa thuận đó. Người lập di chúc cũng có thể phân định di sản theo tỷ lệ mà không xác định rõ phần di sản mà từng người thừa kế được hưởng và mỗi người thừa kế được hưởng phần di sản theo tỷ lệ đã được xác định trên tổng giá trị khối tài sản đang còn vào thời điểm phân chia. Hoặc người lập di chúc có thể phân định rõ trong di chúc người thừa kế nào được hưởng di sản là hiện vật gì; khi di sản được phân chia, các thừa kế được nhận hiện vật theo sự xác định trong di chúc

4. Quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế

Theo sự chỉ định trong di chúc, người thừa kế phải thực hiện một công việc vì lợi ích vật chất của người khác mà đáng lẽ khi còn sống, người để lại di sản phải thực hiện như trả nợ, bồi thường thiệt hại… Tuy nhiên, người thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân của người để lại di sản. Trong trường hợp người để lại di sản có để lại một nghĩa vụ về tài sản nhưng trong di chúc không nói rõ người thừa kế nào phải thực hiện nghĩa vụ đó thì theo quy định của pháp luật, ai hưởng thừa kế thì người đó phải thực hiện. Tuy nhiên, người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại trong phạm vi di sản thừa kế. Nếu người để lại thừa kế đã xác định rõ tỷ lệ nghĩa vụ mà từng người thừa kế phải thực hiện thì mỗi người phải thực hiện phần nghĩa vụ đó trong phạm vi di sản mà mình được hưởng. Phần nghĩa vụ vượt quá di sản người này được hưởng sẽ chia đều cho những người thừa kế khác thực hiện tương ứng với phần di sản mà họ đã nhận.

5. Người lập di chúc có quyền dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng và để di tặng

Người lập di chúc có thể để lại một phần di sản vào việc thờ cúng hoặc để di tặng cho người khác. Phần di sản dùng vào việc di tặng, thờ cúng không được chia thừa kế. Hiệu lực của việc di tặng về nguyên tắc, được xác định theo hiệu lực của di chúc. Nghĩa là việc di tặng chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm người lập di chúc chết và người được di tặng phải còn sống vào thời điểm đó. Người nhận tài sản di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các chủ nợ của người chết, pháp luật cũng quy định: “Trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này” (khoản 2 Điều 671 BLDS) và “Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng””(khoản 2 Điều 670 BLDS).

Pháp luật quy định người để lại di sản thừa kế có quyền dành một phần di sản của mình để di tặng là hoàn toàn hợp lý. Theo quy định về di tặng thì, người được di tặng có nhiều ưu tiên hơn người được thừa kế thông thường vì khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản, thì người được di tặng chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi toàn bộ di sản của người lập di chúc không đủ để thanh toán các khoản nợ của họ. Tuy vậy, khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề này, còn tồn tại nhiều vướng mắc, cụ thể: Xét về bản chất, người được di tặng là người được hưởng một phần di sản theo di chúc. Như vậy, có áp dụng Điều 643 BLDS quy định về “người không được quyền hưởng di sản” đối với người nhận di tặng hay không?. Trường hợp người lập di chúc có cha mẹ già, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, nhưng lại lập di chúc để lại toàn bộ tài sản của mình để di tặng cho một người khác thì Tòa án có tuyên bố di chúc đó vô hiệu được hay không?

Vấn đề để lại di sản dùng vào việc thờ cúng cũng gặp vướng mắc tương tự. Di sản này cũng được hưởng ưu tiên khi thực hiện nghĩa vụ và không bị đem ra chia thừa kế. Tuy nhiên, pháp luật không quy định rõ phần di sản dùng vào việc thờ cúng của người để lại di sản tối đa là bao nhiêu. Do vậy, trường hợp người lập di chúc định đoạt tài sản dùng vào việc thờ cúng quá lớn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế. Trong thời gian tới, pháp luật dân sự cần quy định cụ thể về phần di sản được dùng vào việc thờ cúng và di tặng để tránh những vướng mắc nêu trên.

6.  Quyền sửa đổi, bổ sung thay thế, hủy bỏ di chúc

Sửa đổi di chúc: là việc người lập di chúc bằng ý chí tự nguyện của mình làm thay đổi một phần di chúc đã lập. Những phần di chúc không bị sửa đổi vẫn có hiệu lực; phần di chúc đã bị sửa đổi sẽ không còn hiệu lực mà thay vào đó, pháp luật sẽ căn cứ vào ý chí thể hiện trong sự sửa đổi sau cùng.

Bổ sung di chúc: là việc người lập di chúc bổ sung thêm một số vấn đề mà trong di chúc đã lập chưa nói đến nhằm làm cho di chúc cụ thể, chi tiết hơn, rõ hơn. Khi người lập di chúc bổ sung di chúc thì cả di chúc đã lập và cả phần bổ sung đều có hiệu lực như nhau. Trường hợp di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật. BLDS không quy định điều kiện về hình thức của việc sửa đổi, bổ sung di chúc. Tuy nhiên, để tránh việc tẩy xóa, thêm bớt vào di chúc làm giảm tính chính xác và xác thực của di chúc pháp luật cần quy định việc sửa đổi bổ sung di chúc phải được thể hiện bằng văn bản riêng biệt kèm theo di chúc đã lập.

Thay thế di chúc: Thay thế di chúc là việc một người tuy đã lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho người khác nhưng sau đó nếu họ thấy việc định đoạt của mình chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp) thì có quyền lập một di chúc khác để thay di chúc đã lập trước. Khoản 3 Điều 662 BLDS quy định: “Trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ”.

Hủy bỏ di chúc: là người đã lập di chúc lại bằng ý chí tự nguyện của mình truất bãi di chúc đã lập. Khoản 3 Điểu 662 BLDS 2005 xác định một trường hợp được coi là hủy bỏ di chúc: khi người lập di chúc thay thế di chúc đã lập. Tuy nhiên, thực tế việc hủy bỏ di chúc còn có thể được người lập di chúc thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, ví dụ: hủy bỏ di chúc trong trường hợp thực hiện hành vi xé, đốt, tiêu hủy di chúc mà người đó đã lập ra; hoặc khi người lập di chúc tuyên bố trước mọi người về việc phế truất di chúc đã lập hay viết vào bản di chúc là không thừa nhận di chúc đó nữa. BLDS không quy định về hình thức hủy bỏ di chúc, tuy nhiên, theo nhiều ý kiến, dù thực hiện bằng cách nào chăng nữa, nhưng nếu đó là ý chí tự nguyện của người lập di chúc thì đều được coi là hủy bỏ di chúc.

7.  Quyền chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản

Để tránh việc thất lạc, hư hỏng di chúc, cũng như để đảm bảo ý nguyện của mình không bị người khác xâm phạm, người lập di chúc có thể gửi di chúc ở cơ quan công chứng nhà nước hoặc bất kỳ người nào mà mình tin tưởng giữ bản di chúc. Đồng thời, để di sản của người lập di chúc để lại không bị mất mát, hư hỏng cần có người quản lý di sản. Tôn trọng ý chí của người lập di chúc nên trước hết người quản lý di sản phải là người được chỉ định trong di chúc, khi nào trong di chúc không xác định người quản lý di sản thì sẽ xác định người quản lý di sản theo một trong các trường hợp sau:

– Là người được những người thừa kế cùng thỏa thuận cử ra để quản lý di sản trong thời gian di sản chưa được chia.

– Người đang chiếm giữ, quản lý di sản là người quản lý di sản trong thời gian những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản mới.

– Người đang chiếm giữ, sử dụng di sản thừa kế theo hợp đồng mà họ đã ký kết với người để lại di sản là người quản lý di sản cho đến khi hết hạn hợp đồng.

– Di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý khi chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý.

Người được chỉ định quản lý di sản trong di chúc có thể là một trong những người thừa kế theo luật của người đó nhưng cũng có thể là một người bất kỳ hoặc một cơ quan hay tổ chức nào đó. Ý chí này của người lập di chúc luôn luôn được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện, nếu đúng là ý chí tự nguyện và không trái với pháp luật.

Người lập di chúc cũng có quyền chỉ định người phân chia di sản, việc phân chia di sản phải tuân theo di chúc. Trường hợp di chúc không xác định cách phân chia di sản thì phải chia theo sự thỏa thuận của những người thừa kế. Người phân chia di sản chỉ được hưởng thù lao đối với công việc chia di sản và theo mức mà người để lại di sản đã xác định, nếu trong di chúc có cho phép hưởng thù lao. Trường hợp di chúc không xác định điều này, nhưng nếu có sự thỏa thuận của những người thừa kế thì người phân chia di sản vẫn được hưởng thù lao theo sự thỏa thuận đó. Đồng thời, người được xác định phân chia tài sản có thể từ chối công việc đó nếu muốn và trong những trường hợp này những người thừa kế tự thỏa thuận để cử ra người phân chia di sản.

Trong một số trường hợp, pháp luật quy định quyền của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, các đối tượng được thừa kế tài sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Cụ thể, Điều 669 BLDS quy định:

“Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”

Tóm lại, quyền định đoạt của người lập di chúc được pháp luật bảo vệ và tôn trọng nhưng chỉ có hiện lực khi việc định đoạt bằng di chúc thỏa mãn các điều kiện về di chúc hợp pháp được quy định tại Điều 652 BLDS. Nếu người lập di chúc không tuân theo những điều kiện của di chúc hợp pháp thì di chúc đó bị xác định là không hợp pháp và mặc dù ý chí của người có tài sản được pháp luật bảo hộ và tôn trọng nhưng quyền định đoạt của người có di sản không phải là tuyệt đối. Quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc không vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật thừa kế. Quyền tự do ý chí ấy được thể hiện không những trong việc lập di chúc để định đoạt tài sản mà còn thể hiện ngay cả trong việc không lập di chúc để định đoạt tài sản để lại sau khi chết. Đây là cách thể hiện ý chí của cá nhân bằng việc không lập di chúc để định đoạt tài sản của họ mà ý chí đó thể hiện ở việc chỉ để di sản cho những người có quyền thừa kế theo pháp luật.

III/ Quyền của người nhận di sản – một số vấn đề  vướng mắc

Điều 642 BLDS quy định về việc từ chối nhận di sản như sau:

“1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.

3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế.”

Pháp luật thừa kế của nước ta quy định người thừa kế có quyền nhận di sản hoặc từ chối nhận di sản nếu sự từ chối quyền hưởng di sản của người thừa kế phù hợp với những điều kiện mà pháp luật đã quy định. Sự từ chối quyền hưởng di sản của người thừa kế được quy định trong điều luật nêu trên quy định thời hạn có hiệu lực của sự khước từ, hình thức và thủ tục khước từ quyền hưởng di sản và trường hợp không có quyền từ chối quyền hưởng di sản. Quyền từ chối nhận di sản thừa kế được pháp luật cho phép nếu phù hợp với điều kiện, nguyên tắc, thời hạn theo quy định tại Điều 642 BLDS.

Từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc cũng là sự thể hiện ý chí của người được chỉ định thừa kế theo di chúc đã không nhận thừa kế theo sự định đoạt của người để lại di sản. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc đồng thời là người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật được hưởng di sản thì việc thể hiện ý chí của người đó có thể xảy ra các trường hợp sau:

– Chỉ từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc mà không từ chối quyền hưởng thừa kế theo pháp luật.

– Chỉ từ chối quyền hưởng thừa kế theo pháp luật mà không từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc

– Từ chối cả quyền hưởng thừa kế theo di chúc và quyền hưởng thừa kế theo pháp luật.

Theo tinh thần của điều luật này, thì việc từ chối nhận di sản được coi là một quyền năng của người được hưởng thừa kế. Tuy nhiên việc thực hiện quyền năng này chỉ được pháp luật chấp nhận trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày mở thừa kế;  nếu quá thời hạn kể trên, người được hưởng di sản mới bày tỏ ý kiến về việc từ chối nhận di sản thì việc từ chối đó không được pháp luật chấp nhận và người đó buộc phải chấp nhận việc hưởng quyền năng của mình đó là “quyền hưởng thừa kế di sản”.

Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế, rất ít trường hợp người nhận di sản thực hiện việc từ chối nhận di sản trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày mở thừa kế (tức là ngày mà người để lại di sản chết). Trong không ít trường hợp, sau khi người để lại di sản chết hàng vài năm, việc phân chia di sản mới được đặt ra (điều này là hoàn toàn phù hợp với cách xử sự truyền thống của người Việt Nam). Khi đó, tranh chấp về thừa kế mới nảy sinh, các bên đương sự đưa nhau ra tòa, yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhiều người trong số các đương sự này vì không muốn tham gia vào vụ tranh chấp hoặc vì các lý do khác đã không muốn nhận di sản thừa kế và lúc này họ mới có ý định từ chối nhận di sản. Những người này làm đơn xin Tòa án cho phép họ từ chối nhận di sản (tức là họ từ bỏ một quyền năng của mình). Nếu Tòa án chấp nhận thì sẽ vi phạm quy định về thời hạn từ chối di sản theo Điều 642 Bộ luật dân sự. Nếu Tòa án không cho họ thực hiện quyền năng này, rõ ràng ý chí định đoạt quyền năng của họ đã không được đảm bảo.

Phải khẳng định rằng, quyền thừa kế đối với một khối di sản nhất định về bản chất cũng là một quyền tài sản. Người có quyền năng này cũng chính là chủ sở hữu của khối tài sản đó. Theo Điều 195 Bộ luật dân sự thì chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt số phận pháp lý của tài sản thuộc sở hữu của mình, tức là có quyền chuyển nhượng, tặng cho hoặc thậm chí từ bỏ quyền sở hữu của mình. Như vậy, việc cho phép người được hưởng di sản thừa kế có quyền từ chối nhận di sản thừa kế là hoàn toàn hợp lý. Việc thực hiện quyền năng này ngoài thời hạn 06 tháng (nếu không phải để trốn tránh một nghĩa vụ tài sản) thì hoàn toàn không “gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” như nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu quy định tại Điều 165 Bộ luật dân sự.

Rõ ràng, chưa có sự thống nhất trong quy định của các Điều 642, Điều 195 và Điều 165 Bộ luật dân sự. Việc áp dụng một cách máy móc Điều 642 chỉ là sự làm phức tạp hóa quan hệ dân sự, gây phiền phức cho người dân, chứ chưa thực nhằm mục đích làm ổn định quan hệ xã hội. Vì vậy, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của những người thừa kế, cũng như tạo điều kiện cho Tòa án giải quyết nhánh chóng, kịp thời các tranh chấp về thừa kế, nên sửa đổi quy định tương ứng của BLDS theo hướng, không quy định hạn chế thời hạn từ chối nhận di sản thừa kế. Đồng thời, pháp luật cũng không nên hạn chế phương thức thể hiện việc từ chối mà người từ chối có thể báo với các cơ quan Nhà nước hoặc Tòa án và những người thừa kế khác tại bất kỳ thời điểm nào trước khi di sản thừa kế được chia.

Phương Dung – Hà Giang
Nguồn: toaan.gov.vn