BÀN VỀ VIỆC “YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN” QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 2, ĐIỀU 28, BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

Từ khi Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) ra đời, những quy định về thủ tục giải quyết các việc dân sự tại Toà án được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, là những quy định mới của pháp luật và một trong những quy định mới đó là việc dân sự về “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”. Cơ sở pháp lý của loại việc này xuất phát từ Điều 90 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, theo đó: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con….”. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay, việc thụ lý, giải quyết việc dân sự “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo quy định tại khoản 2 Điều 28 BLTTDS của Toà án hầu như là rất ít; cá biệt rất nhiều Toà án cấp sơ thẩm sau nhiều năm thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự, mặc dù đã ban hành vô số các quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, nhưng lại chưa thụ lý, giải quyết việc dân sự nào theo quy định tại khoản 2 Điều 28 BLTTDS. Để lý giải vì sao lại có sự bất cập này trên thực tiễn, theo chúng tôi, có một số nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất, theo quy định của pháp luật, “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”  được coi là việc dân sự, liệu có phù hợp không?

Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Toà án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (Điều 311 BLTTDS). Như vậy, có thể thấy ngay điểm khác biệt cơ bản so với vụ án dân sự và đặc thù của việc dân sự đó chính là về mặt nội dung không có tranh chấp giữa các đương sự. Do đó, quá trình giải quyết việc dân sự, về nguyên tắc khi không có tranh chấp giữa các đương sự thì không đặt ra vấn đề hoà giải. Luật Hôn nhân và Gia đình thì lại quy định dù thuận tình ly hôn hay ly hôn theo yêu cầu của một bên thì vẫn bắt buộc Toà án phải hoà giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự (các Điều 88, 90, 91 Luật Hôn nhân và Gia đình). Chúng tôi cho rằng, Điều 90 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định cho vợ chồng có quyền cùng yêu cầu ly hôn (được xem là thuận tình ly hôn), chỉ là quy định về quyền được ly hôn và là một trong những cách thức mà cả hai vợ chồng cùng lựa chọn để tự nguyện chấm dứt quan hệ hôn nhân. Đây không phải là một căn cứ pháp lý để cho ly hôn vì sự tự nguyện chấm dứt quan hệ hôn nhân trong trường hợp này của vợ chồng là sự tự nguyện phải thoả mãn các điều kiện do pháp luật quy định và Toà án là cơ quan quyết định. Xuất phát từ quy định về căn cứ cho ly hôn được quy định  tại Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình thì dù vợ chồng có thuận tình ly hôn thì Toà án chỉ chấp nhận khi quan hệ hôn nhân ở “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” nên về bản chất, cho dù là thuận tình ly hôn thì giữa các đương sự vẫn có mâu thuẫn nội tại và có sự tranh chấp, bất đồng trong quan hệ hôn nhân. Thuận tình ly hôn chỉ là một trong những giải pháp vợ chồng lựa chọn để giải giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp trong quan hệ hôn nhân. Như vậy, coi “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” là việc dân sự liệu rằng đã phù hợp với các quy định của pháp luật? Nếu coi là việc dân sự mà khi giải quyết Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải thì phải chăng đã phù hợp với bản chất của việc dân sự là “giữa các đương sự không có tranh chấp”?

Thứ hai, ưu điểm của thủ tục giải quyết việc dân sự là đơn giản hơn, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, thời hạn mở phiên họp ngắn hơn nhiều so với thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên toà đối với việc giải quyết vụ án dân sự nhưng thực tiễn cho thấy khi giải quyết việc dân sự “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” lại phức tạp và mất thời gian hơn so với việc thụ lý giải quyết vụ án sau đó ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự. Bởi lẽ:

Đối với việc dân sự, Viện kiểm sát phải tham gia 100% các phiên họp, đồng nghĩa với việc Toà án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu trong thời hạn luật định để Viện kiểm sát tham gia phiên họp. Quyết định giải quyết việc dân sự không phải là một quyết định có hiệu lực thi hành ngay mà là quyết định có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 90 Luật Hôn nhân và Gia đình thì trước khi mở phiên họp, Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải.

Đối với vụ án dân sự, trường hợp các đương sự cũng thuận tình ly hôn, thì sau khi thụ lý vụ án, Toà án triệu tập các đương sự để tiến hành hoà giải. Xét thấy các đương sự đã thật sự tự nguyện thuận tình ly hôn, Toà án hoà giải không thành và họ đã thoả thuận được với nhau về việc nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì Toà án ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự (hướng dẫn tại Công văn số 107/KHXX ngày 23/6/2006 của Toà án nhân dân tối cao). Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

So sánh 2 cách giải quyết trường hợp thuận tình ly hôn bằng việc dân sự và bằng vụ án dân sự như nêu trên thì thấy rằng: Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng là Toà án và Viện kiểm sát, việc giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, sẽ tiết kiệm hơn về mặt thời gian, không phức tạp về mặt thủ tục vì Viện kiểm sát không phải tham gia phiên toà; đối với các đương sự thì cũng tiết kiệm được thời gian, quyết định giải quyết của Toà án lại có hiệu lực thi hành ngay.

Như vậy, Luật nội dung không chỉ rõ thuận tình ly hôn sẽ được giải quyết theo thủ tục nào nhưng Luật tố tụng lại đang tồn tại cùng một lúc song song hai loại thủ tục tố tụng dân sự có thể giải quyết trường hợp thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 90 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 mà không thể hiện rõ ràng khi nào là vụ án dân sự và khi nào là việc dân sự. Từ đây, dẫn đến tâm lý “ngại” thụ lý, giải quyết các trường hợp thuận tình ly hôn theo thủ tục việc dân sự của Toà án vì những lẽ như đã nói ở trên và cũng bởi lẽ khi ra quyết định công nhận sự tự nguyện  thoả thuận giữa các đương sự thì đối với Toà án và đối với Thẩm phán sẽ là cách giải quyết ưu việt hơn cả về mọi phương diện.

Thực tiễn hiện nay, rất nhiều các quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự được Toà án ban hành nhưng trong quyết định chỉ duy nhất có nội dung công nhận thuận tình ly hôn mà các nội dung khác như về con chung, về tài sản chung Toà án ghi là các đương sự không có nên không xem xét giải quyết hoặc các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết…Như vậy, việc vận dụng Điều 90 Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết, ghi nhận thuận tình ly hôn trong trường hợp này bằng một quyết định liệu đã phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự? Bởi Toà án chỉ giải quyết duy nhất quan hệ về hôn nhân giữa các đương sự và hoà giải không thành thì về nguyên tắc phải lập biên bản hoà giải không thành và đưa vụ án ra xét xử. Toà án chỉ quyết định cho ly hôn khi có các căn cứ cho ly hôn theo quy định tại Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình chứ không căn cứ vào thoả thuận thuận tình ly hôn giữa các đương sự để quyết định cho ly hôn.

Sở dĩ có tình trạng trên là vì, sau khi nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của các đương sự, mặc dù có nhiều trường hợp phải thụ lý giải quyết theo thủ tục việc dân sự như quy định tại khoản 2 Điều 28 BLTTDS nhưng Toà án thường hướng các đương sự sửa lại đơn khởi kiện theo hướng có tranh chấp với nhau hoặc theo hướng ly hôn theo yêu cầu của một bên, để thụ lý giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự. Như vậy, ban đầu là thụ lý vụ án dân sự, sau đó, tiến hành hoà giải, hướng vụ án theo trường hợp thuận tình ly hôn, có tính chất như việc dân sự (không có tranh chấp) để vận dụng Điều 90 Luật Hôn nhân và Gia đình ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận giữa các đương sự.

Chúng tôi cho rằng, việc vận dụng Điều 90 Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết các trường hợp thuận tình ly hôn bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, theo trình tự của một vụ án dân sự, là phù hợp hơn cả. Thực tiễn đã cho thấy việc dân sự “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” quy định tại khoản 2 Điều 28 BLTTDS hầu như không được áp dụng bởi những lẽ như đã phân tích nêu trên. Có nên tiếp tục duy trì quy định “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, là một loại việc dân sự hay không để phù hợp với thực tiễn, theo chúng tôi cũng đang là vấn đề cần được các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi hoặc hướng dẫn cụ thể.

Nguyễn Thành Duy – VKSND tỉnh Gia Lai
Nguồn: toaan.gov.vn

1eca156427374c8abf4738e42b464eef_L

BẪY TÀI CHÍNH KHI VAY TÍN CHẤP LÃI SUẤT 30%

Bẫy tài chính khi vay tín chấp lãi suất 30%

Thứ ba, 14/5/2013, 09:26 GMT+7 May 14 2013 09:26:10

Được chào mời vay tiền dễ dàng, chỉ cần hồ sơ photo và tiền được giải ngân chỉ sau 3 ngày, nhiều người đã vội vàng đồng ý mà bất chấp lãi suất cao gấp đôi ngân hàng.

Trong khi điều kiện vay vốn cá nhân tại các ngân hàng siết chặt như hiện nay, anh Dương – làm việc cho công ty phần mềm tại Trung Hòa, Cầu Giấy (Hà Nội) – vẫn thường xuyên nhận điện thoại chào mời cho vay tiền từ các công ty tài chính. Theo lời quảng cáo của nữ nhân viên bán hàng qua điện thoại, với mức lương 10 triệu đồng, anh có thể được vay tín chấp 60 – 100 triệu đồng và chỉ sau 3 ngày đã nhận được tiền. “Bên em quy trình thủ tục rất đơn giản, chỉ cần hồ sơ photo và vài cuộc điện thoại gọi tới nhà để thẩm định. Chỉ sau 3 ngày là đã có thể giải ngân”, nữ nhân viên này quảng cáo.

Nhiều công ty tài chính vẫn cho vay với lãi suất trên 30% một năm. Ảnh: Hoàng Hà.
Nhiều công ty tài chính vẫn cho vay với lãi suất trên 30% một năm. Ảnh: Hoàng Hà.

Anh Dương được thông báo lãi suất 2,63% theo tháng thay vì cách niêm yết theo năm của một số ngân hàng. Như vậy, lãi suất khách vay tín chấp theo hình thức này lên tới 31,5% một năm – gần gấp đôi so với vay tiêu dùng tại một số nhà băng hiện nay.

Lý giải về “cái giá đắt đỏ” của khoản vay này, nữ nhân viên tư vấn nói: “Nghe thì có vẻ cao thôi nhưng bên em không như ngân hàng, lãi suất sẽ cố định qua các năm và thủ tục vô cùng đơn giản, lại không cần thế chấp gì”.

Không riêng anh Dương mà rất nhiều người có thu nhập ổn định hàng tháng, hàng ngày vẫn nhận được lời mời mọc cho vay tiền từ các công ty tài chính, bất kể họ đang có nhu cầu hay không.

Một chuyên gia tài chính khuyến cáo nếu quá ham hố những điều kiện vay vốn dễ dãi này, nhiều người dân có thể rơi vào “bẫy tài chính” với mức lãi suất quá cao bởi nghĩ rằng kiểu vay này “chẳng mất gì”. Vị chuyên gia này phân tích: “Bình thường có thể cũng không quá cần vay tiền nhưng khi được mời mọc, họ lại nảy sinh những nhu cầu mới. Nhiều người đã vỡ nợ hoặc mất hết lương hàng tháng chỉ để trả lãi và gốc mà không còn tiền sinh hoạt”.

Trước thắc mắc của khách hàng về mức lãi suất trên dưới 30% một năm, nhân viên của một công ty tài chính có thị phần lớn trong lĩnh vực bảo hiểm giải thích do công ty không chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. “Bọn em là doanh nghiệp FDI nên không chịu sự điều hành về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước”, nữ nhân viên này nói.

Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định lãi suất cho vay không được quá 150% lãi suất cơ bản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, hiện các hợp đồng vay vốn không còn theo quy định này và được áp dụng theo Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010.

Trao đổi với VnExpress.net, một chuyên gia pháp chế trong lĩnh vực ngân hàng cho rằng lãi suất trên 30% dù cao ngất ngưởng nhưng lại không trái với các quy định hiện hành bởi đó là sự thỏa thuận giữa hai bên cho vay và đi vay.

Theo giải thích của một phó tổng giám đốc ngân hàng thương mại, về bản chất, một công ty tài chính không có chức năng huy động vốn nên lãi suất đầu vào của nhóm này có thể cao ngang lãi suất cho vay của ngân hàng. Hơn nữa, chi phí để xây dựng mạng lưới bán lẻ cũng lớn nên thường họ tính lãi suất rất cao.

Vị lãnh đạo này khuyến cáo người dân cần hết sức tỉnh táo khi lựa chọn hình thức vay tiền này. “Nguyên tắc số một trong kinh tế là lợi nhuận cao thì rủi ro lớn. Các công ty tài chính cũng phải chấp nhận rủi ro rất lớn khi cho vay tín chấp và không hề tuân theo quy trình cho vay của ngân hàng thương mại như vậy”, ông giải thích.

Trong khi đó, nếu quá cần kíp, buộc phải vay vốn theo hình thức này, các chuyên gia khuyên người tiêu dùng nên “đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng”. Một chuyên gia cho hay: “Nhiều người thấy dễ dàng là vay bằng được mà không cần biết lãi suất, kỳ hạn và hình thức phạt ra sao nên khi muốn thanh lý hợp đồng cũng rất khó khăn. Bởi tính ra tổng lãi phải trả cũng không thấp hơn nếu thanh toán nốt theo hợp đồng là bao nhiêu”

Thanh Thanh Lan

(Nguồn : VnExpress)

1eca156427374c8abf4738e42b464eef_L

‘NGƯỜI DÂN NGUY CƠ VỠ NỢ NẾU HAM MUA NHÀ LÃI SUẤT 6%’

‘Người dân nguy cơ vỡ nợ nếu ham mua nhà lãi suất 6%'

Hết 3 năm hưởng mức vay mua nhà 6%, nếu lãi suất thả nổi vọt lên rất cao, người có thu nhập thấp dễ rơi vào cảnh mất khả năng chi trả, vỡ nợ – chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu chia sẻ với VnExpress.

– Dự thảo Thông tư về cho vay hỗ trợ nhà ở của Ngân hàng Nhà nước trong gói 30.000 tỷ giải cứu bất động sản quy định lãi suất ưu đãi là 6% trong 3 năm đầu và thả nổi sau đó. Ông đánh giá thế nào?

– 6% là một mức lãi suất hấp dẫn nhưng nếu chỉ cố định trong 3 năm rồi thả nổi sau đó sẽ vô cùng bất ổn. Người dân mua nhà là mua tài sản cho cả đời nên việc trả nợ phải dựa trên thu nhập, với diện này thường là thu nhập thấp. Không có gì đảm bảo lãi suất sẽ không vọt lên 19-20% như từng xảy ra. 6% họ còn chịu được nhưng nếu cao hơn thì có thể rơi vào bẫy tài chính. Nhiều người dân sẽ vỡ nợ, việc bị siết nhà và ra đường là chuyện có thể tính tới.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu cho rằng nên áp dụng lãi suất cố định trong suốt thời gian cho vay mua nhà. Ảnh: Thanh Lan.
Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu cho rằng nên áp dụng lãi suất cố định trong suốt thời gian cho vay mua nhà. Ảnh: Thanh Lan.

– Ông có thể phân tích rõ hơn về những hệ quả của việc thả nổi lãi suất sau 3 năm?

– Tôi e nhiều người sẽ liều mạng vay tiền để có một căn nhà. Họ cứ chậc lưỡi sau 3 năm tính tiếp, lãi suất thả nổi đến mức nào và trả được không thì họ chưa nghĩ đến. Như vậy là rất phiêu lưu, mạo hiểm và nhiều người Việt Nam sẽ làm vậy.

Hậu quả dĩ nhiên lại là nợ xấu và ngân hàng sẽ siết nợ, thu hồi lại tài sản đó. Lúc này cả hai bên đều “thua”, ngân hàng dù lấy lại tài sản bán đi cũng chưa chắc bù lỗ được còn người dân thì mất nhà. Đừng để không chỉ bất động sản rơi tự do mà người dân cũng “rơi tự do” vì không có tiền trả nợ.

– Vậy ông nghĩ sao về thời hạn cho vay 10 năm?

– Thời hạn như vậy quá ngắn, rất ít gia đình thu xếp được và cần nới lên 20 năm. Trong tín dụng cho vay mua nhà, quan trọng nhất là thời gian trả nợ, càng dài càng tốt và dù lãi suất có hơi cao một chút thì vẫn chịu được. Ở Mỹ, ngay chính ngôi nhà tôi mua được hưởng thời hạn vay 30 năm.

Cho vay doanh nghiệp thì lấy doanh thu hiện tại trong ngắn hạn để trả nợ còn cho vay mua nhà ở thì đó là doanh thu hình thành rất dài trong nhiều năm, có thể còn nhiều rủi ro. Theo tôi nên nghĩ vậy để có cấu trúc phù hợp cho gói tín dụng này.

– Theo ông lãi suất và thời hạn như thế nào là phù hợp?

– Theo tôi Nhà nước nên tính toán để cho vay với lãi suất từ 5-10% nhưng phải là lãi suất cố định. Thời gian trả nợ ít nhất 20, thậm chí 30 năm thì người dân mới chịu được. Nếu lãi suất thả nổi thì nên quy định rõ việc điều chỉnh sẽ dựa trên những chỉ số cụ thể nào (ví dụ như CPI) thay vì chỉ nói chung chung “dựa theo thị trường”.

– Nhưng để cho vay thời hạn dài, lãi suất cố định thì ngân hàng lấy nguồn vốn dài hạn từ đâu khi thị trường vốn của VN còn kém phát triển?

– Chính phủ có thể phát hành trái phiếu trung và dài hạn, nếu chưa được 20 năm thì ít nhất là 10-15 năm. Nếu không thì có thể kể đến những nguồn tài trợ dài hạn của các tổ chức quốc tế. Công cụ mà Chính phủ nhiều nước tiên tiến áp dụng là thành lập công ty tài chính. Công ty này sẽ dùng nguồn vốn dài hạn trên thị trường vốn để tài trợ vốn thông qua việc mua những nợ bất động sản của các ngân hàng thương mại.

Tóm lại Chính phủ phải tự cân đối trong các bài toán để có được nguồn vốn dài hạn và phải mạnh bạo thì mới giải quyết được bài toán này.

– Nếu không có gì thay đổi về cấu trúc gói cho vay này, lãi suất vẫn cố định 3 năm đầu và ở 6% thì ông có lời khuyên nào với người dân?

– Vấn đề chính là thu nhập của họ, trong 3 năm vừa rồi có ổn định không. Nếu phải trả gốc và lãi cho ngân hàng quá 50% thu nhập mỗi tháng thì tôi khuyên họ không nên vay.

Tôi thấy người Việt Nam rất khác với người Mỹ. Tiền mua nhà của người Mỹ chỉ có một phần ba là tiết kiệm tự có, còn lại là đi vay, chủ yếu ở ngân hàng. Việt Nam thì ngược lại, khi mua nhà người dân sử dụng toàn bộ tiền tiết kiệm hoặc mượn của người thân và họ rất ngại làm việc với ngân hàng. Có thể vì chưa quen văn hóa tín dụng. Nếu có vay, họ sẵn sàng dồn hết số tiền có được để trả ngân hàng cho xong. Đây cũng là điều tốt nhưng dân Mỹ thì sẵn sàng vay nợ trong cả một thời gian dài, tiền nhàn rỗi sẽ dồn đầu tư vào việc khác thay vì thanh lý hợp đồng tín dụng. Điều này cũng góp phần tạo sự khác biệt giữa việc mua nhà của người Việt Nam và các nước khác.

– Ông đánh giá thế nào về sức lan tỏa của gói cứu trợ 30.000 tỷ đồng đối với thị trường bất động sản cũng như tính khả thi khi đến với người dân?

– Tôi nghĩ để tháo gỡ thị trường bất động sản chỉ với 30.000 tỷ đồng quả là một ảo ảnh, so với với con số hàng triệu tỷ của thị trường thì chưa giải quyết được gì. Tuy nhiên, dù sao đây được xem là một bước giải quyết ban đầu khá tích cực của Chính phủ và tôi nghĩ sau đó vẫn cần những gói giải pháp khác nữa. Người dân cũng nên hiểu đây chỉ là phương án tháo gỡ bước đầu và Chính phủ chưa dừng lại ở gói này. Do đó, không nên ào ạt, nhảy xô vào vay mà cần bình tĩnh để suy xét khả năng trả nợ của mình.

Thanh Thanh Lan

(Nguồn: VnExpress)

48ed12281ae1f6453d2d5ec95b17e082_L

NGUY CƠ MẮC BẪY TÀI CHÍNH KHI VAY TIỀN MUA NHÀ

Nguy cơ mắc bẫy tài chính khi vay tiền mua nhà

Tiền vay quá nửa giá trị căn nhà, lãi trả nhà băng hàng tháng vượt nửa thu nhập… điều này có thể khiến chủ nhà gặp khó khăn với khoản nợ của mình.
Giá nhà liên tục hạ, nhà băng lại tỏ ra hào phóng hơn trước nên nhiều người định vay tiền để mua cho có chỗ “chui ra chui vào”. Theo các chuyên gia, chỉ nên vay ngân hàng khi đã có một nửa hoặc hai phần ba số tiền

Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm, Phó chủ tịch Tổng hội Xây dựng, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, cho rằng một số dự án đã giảm về mức hợp lý, có thể chấp nhận được. Theo đó, người dân có thể thu xếp tài chính để mua nhà ở vào thời điểm này.

Đồng quan điểm này, ông Nguyễn Đại Lai – chuyên gia tài chính ngân hàng – cũng cho rằng nên vay tiền ngân hàng để mua nhà lúc này nếu tiên liệu được khả năng trả nợ của mình. “10 năm tiền thuê nhà có thể bằng tiền mua đứt một căn hộ rồi”.

Vợ chồng anh Nguyễn Đình Dũng, Nghĩa Tân, Cầu Giấy có khoảng 150 triệu đồng tiết kiệm, muốn vay thêm để mua căn hộ chung cư bình dân mới mở bán gần đây. Theo anh, nếu vay người thân trong gia đình thì không được lâu dài. Một số người khuyên nên vay ngân hàng và thế chấp chính căn nhà mình mua. Tuy nhiên, anh Dũng rất lo lắng về khả năng chi trả bởi vì thu nhập của 2 vợ chồng hiện chỉ được khoảng 13 triệu đồng.

“Nếu vay ngân hàng, mỗi tháng phải trả lãi và gốc mất nửa số thu nhập. Còn khoảng 5 – 6 triệu để trả tiền nhà thuê, sinh hoạt phí của 2 vợ chồng và con trai một tuổi thì quá eo hẹp”, anh Dũng tính toán.

Các chuyên gia khuyên mua nhà tại thời điểm này nhưng nếu vay tiền ngân hàng thì cần tính toán kỹ lưỡng. Ảnh: Hoàng Hà.
Các chuyên gia khuyên mua nhà tại thời điểm này nhưng nếu vay tiền ngân hàng thì cần tính toán kỹ lưỡng. Ảnh: Hoàng Hà.

Cách đây một tháng, chị Đỗ Hồng Thúy, Ngọc Hồi, Thanh Trì định mua một căn hộ đóng tiền theo giai đoạn ở khu vực Hà Đông. Chủ đầu tư giới thiệu sẽ hỗ trợ vay 70% giá trị căn hộ, lãi suất thời gian đầu là 9,9% một năm. Ban đầu, vợ chồng chị Thúy cũng sốt sắng gom tiền đóng đợt một và tính sau khi đóng đợt 2 sẽ thế chấp chính căn nhà để vay ngân hàng. Tuy nhiên, tính toán lại, chị Thúy quyết định chưa mua vội. “Nếu không cân nhắc kỹ sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình, trong đó có con nhỏ. Áp lực trả nợ khi đó cũng khiến mình rất mệt mỏi”, chị Thúy chia sẻ.

Theo anh Phạm Minh Đức (Thanh Xuân, Hà Nội), hiện lãi suất vẫn khá cao, do đó nếu tính đến việc vay ngân hàng thì nên cân đối nguồn trả nợ trước, để tránh khi vay lại không có khả năng trả. “Điều này còn gây ra lịch sử nợ xấu và sau này muốn đi vay ở ngân hàng khác cũng khó. Nếu các gia đình đã lên kế hoạch kỹ lưỡng rồi thì không đáng ngại”, anh Đức cho hay.

Một trong những lo ngại của người dân khi nghĩ đến việc vay tiền ngân hàng là sợ lãi suất ngân hàng “đỏng đảnh”, biến động khó lường. Chia sẻ những băn khoăn này, các chuyên gia tài chính khuyến cáo người dân hãy để ý thật kỹ các quy định về lãi suất và thời hạn vay và điều khoản thanh lý hợp đồng. Ông Lê Xuân Nghĩa – thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia – cho rằng: “Đây là thời điểm tốt để mua nhà nhưng nếu vay ngân hàng thì nên chờ lãi suất giảm thêm. Thời hạn vay phải dài (khoảng 10 – 15 năm trở lên). Tổng số tiền trả lãi và gốc hàng tháng không được vượt quá 50% tổng thu nhập của gia đình bạn”.

Ông Lê Quang Trung – Phó tổng giám đốc, Giám đốc khối Nguồn vốn và Ngoại hối Ngân hàng Quốc tế (VIB) thừa nhận người mua nhà phải tính kỹ trước khi vay tiền. “Bạn phải cân nhắc kỹ, có chịu được nhiệt nếu thị trường biến động hay không thì mới vay? Vấn đề là khẩu vị rủi ro của bạn tới đâu, bạn có sẵn sàng vay, nếu lãi suất biến động lớn thì có trả được không”, ông khuyến cáo.

“Về phần lãi suất, theo tôi phía ngân hàng cũng không nên đỏng đảnh quá. Thời buổi này khó khăn lắm mới có được khách, có rồi lại cứ thay đổi lãi suất xoành xoạch thì cũng không nên”, chuyên gia Đại Lai nói thêm.

Từ phía ngân hàng, các nhà băng đều thừa nhận đây là lúc họ rất cần khách và sẵn sàng mở cửa hầu bao cho vay mua nhà. Trao đổi với VnExpress.net, đại diện Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng khuyên: “Nếu mua nhà để ở thì nên vay bởi vì nhà giá đang rẻ mà các ngân hàng cũng thích cho vay tiêu dùng. Ngược lại, nếu mua để đầu cơ thì tôi khuyên không nên”.

Tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần có trụ sở tại Hà Nội còn nói, nếu giờ chưa có nhà tôi cũng mua. Tuy nhiên, ông này khuyến cáo không nên “đâm đầu vào đá” khi quyết mua bằng được nếu nguồn tiền tự có ít và phải vay ngân hàng quá nhiều.

Trường hợp tương tự của chị Nguyễn Phương Linh. Hai vợ chồng chị mới tiết kiệm được 80 triệu nhưng muốn mua căn hộ giảm giá hơn 500 triệu nên định vay ngân hàng toàn bộ số còn lại. Chia sẻ mong mỏi có nhà với chị Linh nhưng vị giám đốc trên cho rằng không nên làm vậy. Theo ông, muốn mua nhà thì tối thiểu phải có một nửa số tiền để không phải chịu gánh nợ quá lớn, nếu không người mua có nguy cơ mất nhà khi không thể trả được lãi và gốc.

Ông Lê Quang Trung cũng cho rằng “tay không bắt giặc” thì không nên. Ông phân tích: “Cũng như doanh nghiệp, khi đòn bẩy tài chính quá nhiều sẽ gây ra áp lực. Nếu bạn vay quá nhiều tiền ngân hàng để mua nhà cũng tương tự như vậy. Nếu tổng thu nhập hàng tháng là 100 đồng thì chỉ nên dành 30 đồng, tối đa 50 đồng cho việc chi trả khoản vay nào đó thôi”.

Thanh Lan – Ngọc Tuyên

(Nguồn : VnExpress)

2964cd8751427f56b2f06582b92bec36_L

HÀNG LOẠT VỤ BỘI TÍN TRONG HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH THANH TOÁN

Hàng loạt vụ bội tín trong hợp đồng bảo lãnh thanh toán

Ký hợp đồng mua bán vì tin tưởng ngân hàng đứng đằng sau bảo lãnh, nhưng giờ đây nhiều doanh nghiệp có nguy cơ mất trắng vì đối tác mất khả năng thanh toán, mà ngân hàng cũng tìm lý do chối bỏ nghĩa vụ của mình.

Trao đổi với VnExpress.net, lãnh đạo một ngân hàng cổ phần quy mô lớn nhìn nhận, nghiệp vụ ký phát hành chứng thư bảo lãnh trái phiếu trước đây xảy ra khá ồ ạt vì đây là cách để các nhà băng lách “room” tín dụng. Trước đây mua trái phiếu doanh nghiệp không được tính vào dư nợ tín dụng của ngân hàng. Vì thế khi không còn hạn mức tăng trưởng tín dụng, ngân hàng gợi ý doanh nghiệp phát hành trái phiếu rồi họ đứng ra bảo lãnh. “Tuy nhiên, đó là chuyện của trước đây, khi Ngân hàng Nhà nước chưa tính phát hành giấy tờ có giá, trái phiếu doanh nghiệp vào tăng trưởng tín dụng”, ông nói.

Tranh cãi giữa ngân hàng và một công ty tài chính về hợp đồng bảo lãnh phát hành trái phiếu mới đây là một ví dụ điển hình. Công ty tài chính này đồng ý mua 150 tỷ đồng trái phiếu của một đối tác với điều kiện ngân hàng sẽ đứng ra thanh toán cả gốc lẫn lãi nếu có chuyện bất trắc xảy ra. Tuy nhiên, khi trái phiếu đến hạn, doanh nghiệp phát hành không thanh toán, ngân hàng cũng từ chối thực hiện nghĩa vụ với lý do chứng thư bảo lãnh đã được ký trái quy định.

Sự việc tương tự cũng xảy ra với một nhà băng quốc doanh cách đây vài tháng. Nhiều công ty đã bán thiết bị, nguyên vật liệu cho cùng một đơn vị là công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Tân Hồng ở Từ Liêm, Hà Nội dưới sự bảo lãnh chi nhánh ngân hàng này. Hàng đã giao tận tay, đến thời hạn trả tiền, Công ty Tân Hồng không thực hiện được đầy đủ nghĩa vụ của mình cho các công ty đã bán thiết bị. Lẽ ra, khi hết thời gian bảo lãnh, ngân hàng phải thay Tân Hồng Hà đứng ra thanh toán cho những đơn vị trên.

Nhiều nhà băng thoái thác trách nhiệm bão lãnh thanh toán vào phút chót. Ảnh: Hoàng Hà.
Nhiều nhà băng thoái thác trách nhiệm bão lãnh thanh toán vào phút chót. Ảnh: Hoàng Hà.

Thế nhưng, phía nhà băng từ chối trả tiền bảo lãnh và cho biết phải đợi phán quyết của tòa án bởi chứng thư bảo lãnh đang được Cơ quan cảnh sát điều tra xác minh làm rõ. Hơn nữa, ngân hàng cho biết chứng thư bảo lãnh đó không hề lưu hồ sơ, và đã phát hành vượt thẩm quyền. Cuối cùng hai bên phải gặp nhau tại tòa để phân xử.

3 tháng trước, hàng chục khách hàng là đại diện cho một doanh nghiệp viễn thông đã vây kín trụ sở tại Hà Nội của một ngân hàng cổ phần để đòi nợ. Doanh nghiệp này cho biết, sau khi bán hàng cho một đối tác đã nhận được chứng thư bảo lãnh thanh toán (L/C) của ngân hàng trên. Tuy nhiên, quá thời hạn, công ty trên vẫn chưa nhận được tiền, còn ngân hàng thì từ chối trách nhiệm thanh toán khiến hoạt động của doanh nghiệp lao đao. “Không có tiền, hoạt động sản xuất của công ty đình đốn, lương công nhân thì phải thiếu nợ mấy tháng liền”, lãnh đạo doanh nghiệp này nói.

Nhiều doanh nghiệp cho rằng ký bảo lãnh thanh toán cũng như không. Ảnh: Hoàng Hà.
Nhiều doanh nghiệp cho rằng ký bảo lãnh thanh toán cũng như không. Ảnh: Hoàng Hà.

Điểm chung của các trường hợp từ chối thanh toán là ngân hàng thường lấy lý do chứng thư bảo lãnh ký sai quy trình, không đúng quy định.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính ngân hàng cũng cho rằng, với mỗi nhà băng, uy tín vẫn là vấn đề được đặt lên hàng đầu. “Nếu họ từ chối thanh toán với một chứng thư bảo lãnh hợp lệ thì họ đang vi phạm những nguyên tắc chung trong kinh doanh”, ông cho biết.

Đồng tình với ông Hiếu, một vị chuyên gia khác trong lĩnh vực tài chính nhìn nhận, rất khó để các doanh nghiệp có thể biết được những quy định nội bộ của một ngân hàng. Do đó, không nên đánh đố họ bằng cách này để họ tự phải xác định đâu là một hợp đồng, một chứng thư hợp lệ, không giả mạo.

Tiến sĩ Alan Phan, Chủ tịch Quỹ đầu tư Viasa Hong Kong thừa nhận hình thức ký phát hành trái phiếu bảo lãnh của các ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro. “Vì lẽ đó, ở Mỹ các ngân hàng ít sử dụng cách này. Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra tranh chấp, nếu một nhân viên vượt quá thẩm quyền để ký phát hành hay làm điều gì đó thì trước hết, ngân hàng vẫn phải chịu trách nhiệm về mặt pháp nhân với doanh nghiệp kia rồi mới xử lý nội bộ và xử lý nhân viên đó. Việc nhân viên của anh sai thì người ngoài đâu biết được”, ông Alan Phan phân tích.

Phân tích về khía cạnh pháp lý, Luật sư Trần Văn Đôn, Công ty TNHH Đông Phương Luật cho rằng, trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, bên nhận bảo lãnh sẽ gửi thông báo tới ngân hàng yêu cầu nhà băng thanh toán. Cam kết bảo lãnh thông thường có nội dung ngân hàng chấp nhận bảo lãnh trong phạm vi số tiền bảo lãnh là bao nhiêu và thời hạn bảo lãnh được xác định rõ. Trong thời hạn và hạn mức bảo lãnh đó, bên nhận bảo lãnh được yêu cầu ngân hàng thanh toán tiền bảo lãnh.

Trường hợp do vi phạm nội bộ, trước hết để bảo vệ uy tín của mình, hiếm có nhà băng nào cho rằng vì nguyên nhân như vậy mà không thanh toán. Bởi khách hàng không thể biết rõ được tình hình nội bộ, quản trị rủi ro của ngân hàng như thế nào nên không thể bắt khách hàng chịu hậu quả.

Luật sư cho biết thêm, căn cứ vào các quy định của pháp luật, nếu các bên nhận bảo lãnh đã thực hiện đầy đủ thủ tục yêu cầu thanh toán mà nhà băng không thanh toán bảo lãnh thì nghiễm nhiên phía ngân hàng đã vi phạm cam kết. Vi phạm này sẽ phát sinh trách nhiệm dân sự về lãi chậm trả…

Một chuyên gia khuyến cáo, chứng thư bảo lãnh là một thể thức thanh toán tiến bộ. Tuy nhiên, để tránh rủi ro cho các bên, bản thân ngân hàng cần quản chặt cán bộ ngân hàng, tránh xảy ra lạm quyền trong khi thi hành công vụ do ký chứng thư bảo lãnh thanh toán. Ngoài ra, nên thẩm định chặt chẽ các điều kiện, áp đặt các phương pháp bảo đảm rủi ro.

Thanh Lan – Lệ Chi

(Nguồn: VnExpress)

24d767ce6c156eb07b1fc26c266211f5_L

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CẢNH BÁO VỀ CHỨNG THƯ BẢO LÃNH GIẢ

Ngân hàng Nhà nước cảnh báo về chứng thư bảo lãnh giả

Cơ quan an ninh cho biết, chứng thư bảo lãnh giả là một hình thức tội phạm mới, có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho doanh nghiệp cũng như uy tín của ngân hàng.

Văn bản cảnh báo về tình trạng làm giả chứng thư bảo lãnh vừa được Ngân hàng Nhà nước gửi Tổng giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng trong ngày 19/11.

Vấn đề bắt đầu được dư luận chú ý sau sự kiện 2 chứng thư bảo lãnh của Ngân hàng HSBC bị làm giả. Các chứng thư này có giá trị lên đến 80 tỷ đồng và được cơ quan công an phát hiện hồi đầu tháng 11.

Chứng thư bảo lãnh giả có thể gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp và ngân hàng. Ảnh minh họa: Hoàng Hà
Chứng thư bảo lãnh giả có thể gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp và ngân hàng. Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Trong vụ việc này, nhân viên Trần Công Dũng của HSBC đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý con dấu của ngân hàng, cấu kết với 2 đối tượng ở bên ngoài, làm giả chứng thư để chào bán cho các công ty có nhu cầu về chứng thư bảo lãnh. Theo kết quả điều tra của cơ quan công an, trong thời gian tháng 7-10/2010, Dũng và đồng phạm đã “bán” được 2 chứng thư loại này cho doanh nghiệp với tổng giá trị bảo lãnh thanh toán lên tới 80 tỷ đồng, qua đó thu về không dưới 500 triệu đồng tiền hoa hồng.

Theo thông báo của Cục An ninh tài chính tiền tệ và đầu tư, Bộ Công an, việc làm giả chứng thư bảo lãnh của ngân hàng đang được các đối tượng thực hiện theo một quy trình chung. Nhân viên ngân hàng sử dụng con dấu lấy được do sơ hở quản lý để đóng dấu khống lên phôi giấy trắng có in logo của ngân hàng. Đối tượng này cũng giả mạo thêm chữ ký của lãnh đạo ngân hàng để làm chứng thư bảo lãnh giả. Tiếp đó, đối tượng ngoài ngân hàng sử dụng chứng thư bảo lãnh giả để viết tên của khách hàng.

Theo cơ quan công an và Ngân hàng Nhà nước, đây là hình thức phạm tội mới, có sự câu kết giữa đối tượng ngoài ngân hàng với nhân viên ngân hàng để lừa đảo chiếm đoạt tiền của khách hàng.

Để phòng ngừa vụ việc tương tự có thể xảy ra, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng rà soát và ban hành đầy đủ quy trình quản lý, sử dụng và bảo quản con dấu tại đơn vị. Ngoài ra, các nhà băng cũng cần tăng cường công tác quản lý nhân sự, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về quản lý và sử dụng con dấu. Trong trường hợp phát hiện dấu hiệu lừa đảo, tổ chức tín dụng cần khẩn trương báo cáo Ngân hàng Nhà nước và cơ quan pháp luật để ngăn chặn và xử lý kịp thời.

Riêng về trường hợp của HSBC, đại diện của ngân hàng này khẳng định đã rà soát và áp dụng quy chế quản lý con dấu mới ngay sau khi phát hiện ra sự việc nói trên. HSBC cũng đang đợi kết quả điều tra của cơ quan công an trước khi tiến hành các bước xử lý tiếp theo.

Nhật Minh

(Nguồn : VnExpress)

181bbfa794e218f5cd90439ff3dd1578_L

AI ĐƯỢC VAY VỐN ƯU ĐÃI MUA NHÀ?

Ai được vay vốn ưu đãi mua nhà?

17/05/2013 – 07:05

“Từ ngày 1-6, gói 30.000 tỉ đồng hỗ trợ lãi suất 6%/năm cho người dân mua nhà theo Nghị quyết 02 của Chính phủ sẽ bung ra thị trường. Số tiền này được phân bổ đều cho năm ngân hàng thương mại nhà nước để cho vay ra và không phân bổ cho các địa phương” – ngày 16-5, ông Nguyễn Trần Nam, Thứ trưởng Bộ Xây dựng (ảnh), khẳng định với Pháp Luật TP.HCM.

Thủ tục vay đơn giản

. Thưa ông, đối tượng nào được vay vốn hỗ trợ lãi suất 6%/năm?

+ Thông tư 11 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Thông tư 07 của Bộ Xây dựng quy định rõ đó là những người mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội và người có thu nhập thấp thuê, mua nhà ở thương mại có diện tích nhỏ hơn 70 m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2.

Như vậy, cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước thuộc các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp; viên chức thuộc các đơn vị sự nghiệp công lập; lực lượng vũ trang nhân dân sẽ được vay vốn. Tiếp đến là người lao động thuộc các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật; người đã được nghỉ lao động theo chế độ quy định; người lao động tự do, kinh doanh cá thể.

. Điều kiện vay vốn có khó không, thưa ông?

+ Ưu tiên một là những người đã có hợp đồng thuê, thuê mua và mua nhà ở xã hội. Kế tiếp là người chưa có nhà ở hoặc có nhà nhưng diện tích quá chật (cụ thể là có căn hộ chung cư nhưng diện tích bình quân thấp hơn 8 m2/người hoặc có nhà ở riêng lẻ nhưng diện tích bình quân thấp hơn 8 m2/người và diện tích khuôn viên đất thấp hơn tiêu chuẩn được phép cải tạo, xây dựng theo quy định).

Người dân đang tham quan một căn hộ mẫu 39 m2 tại một chung cư ở quận 12, TP.HCM. Ảnh: HTD

Đối tượng được vay vốn phải có hộ khẩu thường trú tại tỉnh, TP trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở. Trường hợp tạm trú thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ một năm trở lên.

. Thủ tục vay như thế nào?

+ Thủ tục vay rất đơn giản. Người đã có hợp đồng thuê, thuê mua và mua nhà ở xã hội chỉ cần mang hợp đồng đến sẽ được ngân hàng cho vay, không cần phải xác minh. Vì để được ký hợp đồng, người đó đã phải đạt các điều kiện, phải có xác nhận của cơ quan, chính quyền địa phương, được xét duyệt công khai…

Riêng với người mua nhà ở thương mại có diện tích dưới 70 m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2 thì phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Ví dụ đối với người đi làm, công chức viên chức, lực lượng vũ trang… thì phải có xác nhận của cơ quan đang làm việc. Giấy xác nhận phải nêu rõ về nơi công tác, thực trạng nhà ở và chỉ xác nhận một lần.

Được mua nhà theo ý muốn

. Khi vay, người dân có được quyền lựa chọn nhà ở hay buộc phải mua căn hộ thuộc dự án do ngân hàng chỉ định?

+ Người vay được chọn mua nhà ở theo ý muốn, không bị áp đặt.

. Trường hợp số lượng người đủ điều kiện vay vốn ưu đãi quá đông thì có xét đến các tiêu chí ưu tiên nào không?

+ Ai tới trước, nộp hồ sơ trước sẽ được ngân hàng xét cho vay, đến khi hết tiền thì thôi.

. Tại sao Thông tư 11 của NHNN lại quy định người nghèo đi vay vốn ưu đãi phải có tài sản thế chấp?

+ Về nguyên tắc, ngân hàng cho vay thì họ phải có phương án thu hồi được vốn. Ngân hàng nào cũng phải làm rõ người vay có phương án trả nợ, nguồn trả nợ hay không, cụ thể lương tháng, tiền để dành được bao nhiêu phần trăm…

Câu hỏi đặt ra: Người nghèo thì lấy đâu ra tài sản để thế chấp? Trong Thông tư 11 cũng có điều kiện mở về vấn đề này. Nghĩa là tùy theo đánh giá của ngân hàng, người vay có thể không cần thế chấp tài sản. Ví dụ như ngân hàng thấy người đó vay để mua nhà đã có rồi, có nhân thân tốt, thu nhập ổn định… Còn nếu thấy đối tượng vay còn nhiều bấp bênh, ngân hàng sẽ buộc họ phải có tài sản thế chấp. Điều này là hợp lý!

Chủ đầu tư được làm trung gian

.Vậy từ ngày 1-6, người dân muốn tham gia vay gói 30.000 tỉ đồng sẽ đến đâu để làm thủ tục?

+ Họ sẽ đến các chi nhánh của năm ngân hàng thương mại nhà nước được chỉ định để nộp hồ sơ vay vốn. Hồ sơ vay gồm có đơn, hợp đồng, giấy xác nhận cơ quan nơi công tác… như đã nói ở trên.

. Thưa ông, tại sao không để các chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội đứng ra làm trung gian giữa người vay với ngân hàng?

+ Theo tôi, nếu các chủ đầu tư làm được thì quá tốt. Các chủ đầu tư có thể đứng ra thống kê số lượng khách hàng cần vay, sau đó chuyển danh sách cho ngân hàng. Bởi sau này ngân hàng có giải ngân cho người vay thì cũng chuyển thẳng số tiền vay cho doanh nghiệp.

Gian dối có thể bị xử lý hình sự

Năm ngân hàng sẽ cho vay gói 30.000 tỉ đồng

– Ngân hàng TMCP Công Thương (VietinBank)

– Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển (BIDV)

– Ngân hàng TMCP Ngoại Thương (VietcomBank)

– Ngân hàng Nông nghiệp – Phát triển nông thôn (Agribank)

– Ngân hàng TMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB)

. Trường hợp người vay vốn ưu đãi gian lận về điều kiện vay thì xử lý như thế nào?

+ Các tổ chức, cá nhân có hành vi gian dối về đối tượng, điều kiện được vay sẽ bị xử lý theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý và phát triển nhà ở. Ngoài ra còn bị buộc phải trả lại số tiền đã vay, chấm dứt hợp đồng vay đã ký với các ngân hàng.

Đối với người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cố ý xác nhận sai đối tượng đủ điều kiện được vay thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Người có hành vi vi phạm nếu gây thiệt hại về vật chất thì phải bồi thường.

. Nếu số tiền 30.000 tỉ đồng không đủ so với nhu cầu thực tế, Chính phủ có bổ sung thêm không?

+ Chính phủ dành 30.000 tỉ đồng là đã rất cố gắng rồi. Nguồn vốn này chiếm 15% tổng dư nợ cho vay bất động sản, trong khi tăng trưởng tín dụng chung hiện chỉ đạt 1,4%, rất thấp. trước mắt chúng ta chỉ tập trung vào gói 30.000 tỉ đồng cho vay, chưa bàn đến nguồn vốn thêm. Sau khi có tổng kết và kết quả thực hiện tốt, có hiệu ứng xã hội cao thì có thể đề xuất bổ sung.

. Xin cảm ơn ông.

BÙI NHƠN

(Nguồn: Báo Pháp luật Tp.HCM)

THUÊ NGƯỜI QUA MẶT CÔNG CHỨNG ĐỂ LỪA 5 TỈ ĐỒNG

(PL)- Cơ quan CSĐT Công an TP.HCM cho biết vừa có kết luận điều tra và chuyển VKSND cùng cấp đề nghị truy tố Mai Hữu Thành (ngụ quận Bình Thạnh) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức.

Theo kết luận điều tra, Thành quen Nguyễn Việt Mỹ (ngụ quận 4). Thành nói đang nắm giữ một số giấy tờ nhà đất và cần tiền để đầu tư dự án nên nhờ Mỹ vay tiền. Qua trung gian, Mỹ được giới thiệu gặp Hồ Sỹ Ngọc Long (ngụ quận Gò Vấp). Mỹ giao ba bộ hồ sơ nhà đất của Thành cho ông Long để thế chấp cho ông L. và ông V. vay 5,1 tỉ đồng. Đến hạn, Thành không trả nợ, ông L. và ông V. tự tìm hiểu thì mới biết ba bộ hồ sơ nhà đất trên là giả nên trình báo công an.

Tại cơ quan điều tra, Thành khai ba bộ hồ sơ do một phụ nữ không rõ lai lịch cung cấp. Sau khi lừa chiếm đoạt 5,1 tỉ đồng, Thành trả tiền môi giới cho ông Long hơn 340 triệu đồng, đồng thời chia tiền cho đồng bọn và các đối tượng giúp sức. Để qua mặt công chứng, Thành gặp và bàn bạc với Hứa Mỹ Duyên (ngụ quận 11) nhờ Duyên đóng giả chủ sở hữu nhà đất rồi làm giả CMND, hộ khẩu dán ảnh của Duyên vào. Bằng thủ đoạn này, Thành và đồng bọn đã qua mặt công chứng viên để vay của ông L. 900 triệu đồng.

Với thủ đoạn trên, Thành nhờ hai người là ông Trịnh Như Văn và ông Trần Văn Sổ đóng giả chủ nhà đất để qua mặt công chứng viên. Đối với hồ sơ thứ ba mang tên Trần Văn Sổ ở huyện Hóc Môn, Thành thuê người đóng giả ông Sổ để làm thủ tục tại phòng công chứng.

Công an đã bắt giữ Hứa Mỹ Duyên. Đồng thời truy tìm Nguyễn Việt Mỹ cùng Trịnh Như Văn, Trần Văn Sổ, hai người đóng giả “chủ đất” để giúp sức cho việc lừa đảo của Thành.

TUYẾT KHUÊ

(Nguồn: Báo Pháp luật Tp.HCM)

18325a37bf525b9d88d51a3441669c72_L

SIẾT CHI PHÍ QUẢNG CÁO TRÓI TAY DOANH NGHIỆP NỘI

Siết chi phí quảng cáo trói tay doanh nghiệp nội

TT – Quy định khống chế chi phí quảng cáo, tiếp thị… không quá 10% từ lâu đã bị cộng đồng doanh nghiệp phản ứng.

 Việc khống chế chi phí quảng cáo, theo nhiều doanh nghiệp, đang khiến họ không thể cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài – Ảnh: T.T.D.

Đỉnh điểm của sự bức xúc này đã xảy ra khi ông Phan Đăng Tuất – chủ tịch HĐTV Tổng công ty Bia rượu, nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) – mới đây đã kịch liệt phê phán cho rằng quy định này đang “tiêu diệt” doanh nghiệp trong nước.

Theo một lãnh đạo Bộ Tài chính, với quy định hiện nay, doanh nghiệp mới thành lập trong ba năm đầu đã được chi cho quảng cáo, tiếp thị đến 15% và được tính vào chi phí hợp lý trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Điều này nhằm giúp những doanh nghiệp mới có điều kiện quảng bá, tiếp thị để tiếp cận người tiêu dùng. Thừa nhận quy định hạn chế mức chi cho quảng cáo chỉ được đến 10% như hiện nay có nhiều doanh nghiệp không đồng tình vì hạn chế khả năng quảng bá để nâng doanh thu, nhưng vị lãnh đạo Bộ Tài chính cho rằng cần tính một cách tổng thể. Bởi nếu “thả”, không khống chế chi phí quảng cáo nữa thì nhiều hãng nước ngoài, công ty đa quốc gia có thể tăng rất mạnh chi phí quảng cáo. Hiện nay, một số sản phẩm như sữa, chi phí quảng cáo, tiếp thị cao đã đẩy cả vào giá thành và người tiêu dùng phải chịu.

Hiện Bộ Tài chính đang trình dự thảo sửa đổi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, theo đó sẽ nâng mức chi cho quảng cáo tới 15% tổng chi phí. Việc quyết định mức nào hay bãi bỏ hẳn, theo vị lãnh đạo Bộ Tài chính, sẽ thuộc thẩm quyền Quốc hội.

Phát biểu tại hội thảo “Cạnh tranh lành mạnh bảo vệ người tiêu dùng và thương hiệu Việt”, tổ chức ngày 14-5 ở Hà Nội, ông Phan Đăng Tuất cho biết hiện tổng công ty của ông đang gặp khó vì quy định khống chế chi phí quảng cáo, tiếp thị… không được quá 10% “chi phí thực tế phát sinh trong kỳ” (tức chi quảng cáo không được quá 10% tổng chi phí hợp lý được trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp – pv). Ông Tuất cho rằng quy định này góp phần “tiêu diệt” doanh nghiệp trong nước. Lý giải điều bất cập này, ông Tuất phân tích: chi phí thực tế phát sinh trong kỳ chỉ biết được khi đã kiểm toán (thường vào ngày 31-3 năm sau, riêng tổng công ty lớn như Sabeco có thể tháng 4 mới xong). Nên trong năm doanh nghiệp không biết sẽ được chi bao nhiêu, phải rất cẩn trọng bởi nếu lạm chi thì sẽ bị xử lý.

Trao đổi với báo chí bên lề hội thảo, ông Phan Đăng Tuất cho biết thêm:

– Quản ở khâu chi phí là cách quản lý ở thời kỳ cổ điển. Đáng lý cần quản ở doanh thu thì sẽ kích thích doanh nghiệp tạo nhiều lợi nhuận. Nếu quản ngay từ phí, ta có bằng chứng sinh động: chẳng hạn phí chuyển nhượng ôtô cao người ta không chuyển nhượng, không sang tên đổi chủ. Hạ phí ở mức người ta chấp nhận được thì Nhà nước quản được, nguồn thu lại tăng. Doanh nghiệp, nhất là ngành bia, nếu cứ khống chế 10% chi phí quảng cáo như thế này là “bó tay” chúng tôi. Nếu vẫn áp dụng thế này, khoảng 10 năm nữa các hãng nước giải khát trong nước bằng cách này cách khác sẽ thui chột.

Vì vậy, tôi cho rằng các vị làm chính sách cần ngồi lại với nhau bàn lại. Quy định hạn chế ở mức 10% hiện nay và trước đây là 7% tôi đã nói cách đây tám năm là không nên. Bây giờ lại bàn nhích lên 15% vẫn chưa thỏa đáng.

* Nhưng có ý kiến cho rằng việc khống chế chi phí quảng cáo không quá 10% bởi VN mới ở giai đoạn đầu phát triển, nếu không doanh nghiệp có thể đưa chi phí lên cao để né nộp thuế?

– Quy định như thế, doanh nghiệp như chúng tôi không đủ chi phí quảng cáo, có thể phải “gian” chi phí để nâng mức được phép lên. Nếu để giữ thương hiệu cho VN, phải cho 30% may ra mới cạnh tranh được, bởi các hãng nước ngoài hiện họ chi 20% doanh thu! Ở VN được đăng ký ba hệ thống kế toán. Duy hệ thống kế toán VN quy định cái đó, còn hệ thống kế toán Anh, Mỹ không quy định, miễn có hóa đơn là được tính chi phí. Nếu quản lý nhà nước đã khống chế, phải dõi theo từng ngành. Bởi có ngành cần 30%, nhưng có ngành chỉ cần 2%. Nếu cào bằng, doanh nghiệp cần quảng cáo sẽ chết, còn doanh nghiệp không cần thì lợi.

CẦM VĂN KÌNH

(Nguồn: Báo tuổi trẻ)

Trao đổi với Tuổi Trẻ, nhiều chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng cần sớm sửa đổi quy định này để tránh thiệt thòi cho doanh nghiệp trong nước.

Ông Đỗ Kim Dũng (phó chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo VN): Hầu hết các nước đều không áp dụng

Để có thị phần, doanh nghiệp phải đầu tư cho phần mềm, trong đó phải có chi tiền để kích hoạt thương hiệu, quảng cáo chính là đầu tư về mặt chiến lược. Cần hiểu 10% với một sản phẩm đang lưu hành và quen thuộc trên thị trường là lớn nhưng với một sản phẩm mới, nhãn hiệu mới thì không thể chi 10% để có thị phần. Việc phát triển một nhãn hiệu mới hoàn toàn với một sản phẩm đã có chỗ đứng trên thị trường và doanh số của một sản phẩm mới khó có thể so bì với một sản phẩm đã được ưa thích. Nếu khống chế thì các doanh nghiệp đi sau không có cơ hội tăng thị phần, không đủ năng lực để tăng cường sức cạnh tranh của mình, khống chế chi phí quảng cáo chả khác gì tiêu diệt doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong nước.

Trên thế giới đã phổ cập khuynh hướng không khống chế mức phí trong quảng cáo, chỉ còn VN và Trung Quốc duy trì quy định này. Con số 10, 15 hay thậm chí 30% không nên tồn tại vì bản thân nó chẳng giải quyết được gì.

Ông Trần Bảo Minh (giám đốc điều hành phụ trách chiến lược kinh doanh, marketing Công ty cổ phần Sữa quốc tế – IDP):Ngồi nhìn doanh nghiệp nước ngoài lấy thị phần

Chi phí quảng cáo không chỉ đơn giản là trên truyền hình, quảng cáo ngoài trời mà còn bao gồm cả khuyến mãi, tặng quà cùng nhiều hoạt động khác. Trong thời buổi hiện nay, khi tất cả chi phí dành cho quảng cáo đều tăng nhưng sức mua thị trường, cạnh tranh giữa các thương hiệu ngày càng cam go thì số tiền chi cho quảng cáo nếu tính ở trong mức khống chế chả đáng là bao. Vì vậy, khống chế chi phí quảng cáo là tự đè doanh nghiệp trong nước, chẳng khác gì bắt họ phải ngồi nhìn doanh nghiệp nước ngoài lấy thị phần. Có những thương hiệu nước ngoài khi mới vào thị trường VN sẵn sàng chi đến 30-40% doanh số dành cho quảng cáo với mục tiêu giành thị phần càng nhanh càng tốt. Họ có thể chịu đựng chính sách này đến 2-3 năm với nguồn tiền rót từ công ty mẹ ở nước ngoài. Trong khi đó doanh nghiệp VN lại bị bó buộc với mức khống chế, loay hoay làm quảng cáo với số tiền ít ỏi. Chưa kể 10% doanh số của doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ giá trị chênh lệch nhau rất nhiều. Vô hình trung, cơ hội vươn lên của doanh nghiệp nhỏ bị mất.

Ông Huỳnh Kiến Nam (giám đốc Công ty mỹ phẩm Gia Đình): Doanh nghiệp nhỏ cũng bị hạn chế

Doanh nghiệp nhỏ như chúng tôi chỉ dám sử dụng những phương thức quảng cáo truyền thống như thông qua các hội chợ, khuyến mãi tại điểm bán… hoặc đi về các tỉnh, chưa thể chi tiền để xuất hiện trên truyền hình nhưng đã cảm thấy áp lực với mức khống chế 10% trong quảng cáo. Đơn giản như thực hiện khuyến mãi tại siêu thị, các siêu thị luôn yêu cầu doanh nghiệp phải giảm sâu và hấp dẫn nhưng chúng tôi không thể làm vì như vậy sẽ không còn ngân sách để làm các chương trình khác. Trong khi đó, các tập đoàn đa quốc gia có thể khuyến mãi khủng và người tiêu dùng nhanh chóng bị thu hút.

Như Bình ghi

616bcb4070200eba2fbb3aacc645866b_XL

NGƯỜI NƯỚC NGOÀI KHÓ MUA NHÀ TẠI VIỆT NAM

Người nước ngoài khó mua nhà tại Việt Nam

(Ngày đăng: 23-04-2013 11:21:20)

Không ít người đã phải từ bỏ giấc mơ an cư để lập nghiệp tại nơi mà họ chọn gắn bó suốt phần đời còn lại.

Trước thực trạng này, Chính phủ vừa thông qua nghị quyết 48 yêu cầu Bộ Xây dựng khẩn trương đề xuất phương án sửa đổi chính sách theo hướng mở rộng đối tượng và điều kiện mua, sở hữu nhà ở đối với người VN định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại VN.

Bảy năm và một căn nhà

Sau hơn bảy năm sinh sống tại VN, dù có đủ tiềm lực tài chính và có nhu cầu mua nhà để ở lâu dài tại đây nhưng chị Sonia (quốc tịch Anh và Pháp) vẫn phải đi thuê nhà. “Năm ngoái tôi quyết định mua căn hộ tại Q.7, TP.HCM diện tích 99,8m2 với giá 90.000 USD (khoảng 1,8 tỉ đồng). Mẹ tôi đã sang xem nhà cùng tôi và rất hài lòng, nhưng khi chúng tôi làm thủ tục sở hữu nhà thì bị vướng vì tôi không thể đứng tên 100% sở hữu căn hộ này” – cô Sonia nói.

Theo Sonia, dù cô đã lấy chồng là người VN được ba năm nay, tức nằm trong diện được phép mua nhà, nhưng cô lại không có thẻ thường trú. “Tôi đã cố làm thẻ thường trú cho vợ tôi nhưng rất khó vì cô ấy chưa có bằng cử nhân hay các loại bằng cấp hợp pháp khác” – anh Nguyễn Lê Việt Hùng, chồng của Sonia, nói.

Chỉ có 64 người nước ngoài sở hữu nhà tại VN

Theo Cục Đăng ký và thống kê (thuộc Tổng cục Quản lý đất đai – Bộ Tài nguyên và môi trường), tính đến ngày 1-2-2013 cả nước có 427 trường hợp người VN định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà tại VN (TP.HCM chiếm 342 trường hợp). Trong đó chỉ có 64 người nước ngoài đứng tên sở hữu nhà tại VN. Con số này quá thấp vì cả nước có hơn 80.000 người nước ngoài sinh sống và làm việc.

Hiện Sonia cùng chồng và con trai 3 tuổi vẫn phải thuê nhà để ở tại một căn hộ chung cư với giá 8 triệu đồng/tháng. Ngoài công việc đi dạy, làm hướng dẫn viên du lịch, buổi tối Sonia phải đi học thêm một lớp đào tạo đại học từ xa của Pháp để lấy tấm bằng cử nhân với hi vọng đủ điều kiện để mua được nhà tại VN.

Trường hợp như Sonia không hiếm. Tại khu căn hộ New Saigon (huyện Nhà Bè, TP.HCM) có nhiều người bạn của Sonia đến đây định cư lâu dài hoặc lấy vợ, lấy chồng là người Việt cũng phải thuê nhà để ở với giá 8-10 triệu đồng/tháng hoặc mua nhà nhưng nhờ người Việt đứng tên. Hay trường hợp của Ash – một người Úc, và Joseph – một người Pháp – vì nhu cầu định cư lâu dài tại VN đã mua nhà ở Q.1 và Q.4 nhưng đều không thể đứng tên mà phải nhờ người Việt đứng tên. Thế nên dù bỏ tiền ra mua căn nhà nhưng Ash và Joseph vẫn nơm nớp lo lắng vì không biết mình có giữ được tài sản khi xảy ra tranh chấp…

Trên thực tế không chỉ người nước ngoài mà ngay cả bà con Việt kiều muốn mua và sở hữu nhà tại quê hương mình cũng gặp nhiều khó khăn. Là Việt kiều Pháp trở về quê hương và muốn ở lại lâu dài nên vợ chồng bà Jeanne Huỳnh đã mua một căn hộ tại đường Trần Xuân Soạn (Q.7). Tuy nhiên, năm người con của ông bà đang định cư tại Pháp và một số nước cũng muốn mua nhà tại VN nhưng không thể. “Gần đây con gái tôi có về VN và muốn mua nhà nhưng lại không có được thẻ thường trú một năm theo quy định nên đành thôi” – bà Jeanne Huỳnh nói. Tương tự, anh Nguyễn Xuân Trường – một Việt kiều quốc tịch Singapore – cho biết vì công việc, anh đi về thường xuyên và muốn mua nhà tại VN nhưng do không làm được thẻ tạm trú nên đành gác lại ý định đó.

Nhiều người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại TP.HCM cho biết để sở hữu được căn nhà tại VN rất khó khăn vì đang có quá nhiều thủ tục ràng buộc và rào cản pháp lý. Theo họ, vướng mắc lớn nhất trong việc mua nhà tại VN là phải có thẻ thường trú một năm trở lên và hàng loạt vấn đề khác như phải là người hoạt động trong lĩnh vực kinh tế – xã hội có bằng đại học, phải kết hôn với công dân VN, phải có đóng góp cho đất nước VN và được Chủ tịch nước tặng bằng khen…

Chưa mua đã thấy mệt

Theo Ủy ban Người VN ở nước ngoài TP.HCM, mỗi năm đơn vị này tiếp và giải đáp thắc mắc cho hàng vạn lượt kiều bào, trong đó những thắc mắc về việc mua nhà và sở hữu nhà chiếm đa số. Ông Trương Văn Hiếu, trưởng phòng kinh tế của ủy ban, cho biết: “Nhu cầu Việt kiều về nước mua nhà và đầu tư rất lớn, trong đó có nhiều bà con khi tìm hiểu thủ tục thấy quá khắt khe và rườm rà nên thôi ý định mua nhà tại VN. Thường khi họ đến yêu cầu giúp đỡ về thủ tục nhà ở thì chúng tôi sẽ xem xét hồ sơ và có cách tác động với các sở ban ngành trên địa bàn TP để hỗ trợ. Phần lớn bà con gặp khó khăn trong việc chứng minh nguồn gốc Việt kiều vì nhiều người đã mất hết giấy tờ”.

Theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, dù là Việt kiều hay người nước ngoài đều có nhu cầu an cư lạc nghiệp. “Việc mua một hay một vài căn nhà tại VN để sinh sống, làm việc là nhu cầu tất yếu của họ nhưng hiện luật pháp chúng ta đòi hỏi quá nhiều chỉ tiêu, giấy tờ thủ tục khiến họ chưa mua nhà đã thấy mệt. Mở các điều kiện này ra để người nước ngoài có thể mua được nhà tại VN là đúng, điều này phần nào tạo thêm sức mua cho hàng loạt căn hộ phân khúc cấp cao đang dư thừa tại VN” – ông Thành nói.

Còn ông Lê Hoàng Châu, chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM, nhận định: “Đối với Việt kiều phải đối xử với họ như người trong nước về vấn đề sở hữu nhà, tuy nhiên cần gỡ điểm vướng mắc ở đây là nới lỏng việc kiểm soát nguồn gốc Việt kiều vì nhiều bà con đã mất giấy tờ. Còn đối với người nước ngoài cần mở rộng các điều kiện mua nhà, nhưng chỉ nên cho phép họ mua nhà ở chất lượng cao, ví dụ những sản phẩm có mức giá từ 30 triệu đồng/m2 trở lên”.

Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng ngoài việc mua nhà để ở, cần xem xét cho người nước ngoài được bán hoặc cho thuê bởi điều này hoàn toàn hợp lý.

Nguồn: Tuổi trẻ